Thừa kế thế vị và thừa kế chuyển tiếp khi người thừa kế chết

Hai anh em cùng mất trong một năm, cả hai đều trước khi bố mình qua đời vài ngày hoặc sau đó vài ngày. Người anh mất trước bố một tuần. Người em mất sau bố một tuần. Cả hai đều để lại vợ và hai con. Về tình cảm, hai gia đình nhỏ này ở vị trí như nhau. Về pháp lý, kết quả khác hẳn. Vợ của người anh không nhận được gì từ di sản của bố chồng. Vợ của người em lại có phần.

Khác biệt nằm ở thứ tự thời gian của hai cái chết. Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) xử lý hai tình huống bằng hai cơ chế khác nhau: thừa kế thế vị cho trường hợp người con chết trước, và thừa kế chuyển tiếp (hay nhiều lần mở thừa kế liên tiếp) cho trường hợp người con chết sau. Bài viết này giải thích từng cơ chế, cách chia và những sai sót hay gặp khi lập hồ sơ.

Tóm tắt

  • Thừa kế thế vị là trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Khi đó cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng thời điểm thì chắt được hưởng (Điều 652 BLDS).
  • Người thế vị chỉ nhận đúng phần của cha hoặc mẹ mình, sau đó chia đều trong nhánh đó. Phần này không chia đều theo đầu người với các cô, chú, bác.
  • Vợ hoặc chồng của người con đã chết trước không được thế vị. Con của anh chị em ruột người chết cũng không được thế vị.
  • Nếu người con chết sau người để lại di sản, quyền thừa kế của người con đã phát sinh từ thời điểm mở thừa kế (Điều 614 BLDS). Phần đó trở thành di sản của người con, và được chia cho người thừa kế của người con, gồm cả vợ hoặc chồng của họ. Đây là thừa kế chuyển tiếp.
  • Những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng thời điểm, hoặc không xác định được ai chết trước, thì không thừa kế của nhau (Điều 619 BLDS). Cơ chế thế vị vẫn áp dụng cho con, cháu của họ.

Thừa kế thế vị theo Điều 652 Bộ luật Dân sự

Điều 652 BLDS quy định: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”

Có thể tách thành bốn điều kiện:

Điều kiện

Nội dung

Căn cứ

Quan hệNgười được thế vào là con của người để lại di sản. Người thế vị là cháu (con của người con đó), hoặc chắt nếu cháu cũng đã chếtĐiều 652 BLDS
Thời điểm chếtNgười con chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sảnĐiều 652, Điều 619 BLDS
Tư cách người thế vịCháu, chắt còn sống vào thời điểm mở thừa kế, hoặc đã thành thai trước thời điểm đó và sinh ra còn sốngĐiều 613 BLDS
Căn cứ chiaPhần di sản chia theo pháp luậtĐiều 652 nằm trong Chương XXIII “Thừa kế theo pháp luật”

Cháu nhận phần của nhánh, không nhận theo đầu người

Đây là chỗ các gia đình tính sai nhiều nhất. Người thế vị không được tính như một người thừa kế độc lập ngang hàng với các con còn sống. Cháu hoặc các cháu chỉ thay vào một vị trí: vị trí của cha hoặc mẹ mình.

Ví dụ: Bà K mất, để lại di sản 1,2 tỷ đồng, không có di chúc. Chồng bà đã mất trước, cha mẹ bà cũng đã mất. Bà có ba con: L, M và N. Con N đã chết trước bà và để lại hai con.

Người hoặc nhánh

Cách tính

Phần nhận
Con L1,2 tỷ / 3400 triệu
Con M1,2 tỷ / 3400 triệu
Nhánh N (thế vị)1,2 tỷ / 3400 triệu
Mỗi con của N400 triệu / 2200 triệu

Nếu chia đều cho bốn người là L, M và hai cháu, mỗi người 300 triệu, thì kết quả sai. Cách chia đó làm tăng phần của nhánh N lên 600 triệu và giảm phần của L, M.

Thế vị áp dụng cho cả cháu ngoại, con của con nuôi

Điều 652 BLDS dùng chữ “cháu” mà không phân biệt nội, ngoại. Con của con gái được thế vị y như con của con trai.

Điều 653 BLDS quy định con nuôi và cha mẹ nuôi được thừa kế của nhau, và “còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652”. Con của con nuôi vì vậy được thế vị đối với di sản của cha mẹ nuôi, nếu người con nuôi chết trước.

Điều 654 BLDS dẫn chiếu tương tự với con riêng và bố dượng, mẹ kế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con. Điều kiện chứng minh quan hệ nuôi dưỡng trong hai trường hợp này được trình bày tại bài quyền thừa kế của con nuôi.

Những người không được thế vị

Ba nhóm sau thường được gia đình tự đưa vào danh sách thế vị, nhưng Điều 652 BLDS không cho phép:

Vợ hoặc chồng của người con đã chết trước. Con dâu, con rể không thuộc hàng thừa kế của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ. Họ cũng không thế vào vị trí của người chồng, người vợ đã mất trước. Nếu người con chết trước mà không có con, nhánh đó coi như không còn. Phần của nhánh được chia cho những người cùng hàng còn lại.

Con của anh chị em ruột người chết. Thế vị chỉ chạy theo chiều dọc từ người để lại di sản xuống con, cháu, chắt của chính người đó. Cháu gọi người chết bằng bác, chú, cô, cậu, dì không thế vào vị trí của cha mẹ mình ở hàng thứ hai. Ví dụ minh họa có tại bài thừa kế theo pháp luật.

Con của người con còn sống nhưng bị truất quyền, từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng. Điều 652 BLDS chỉ nêu điều kiện “chết trước hoặc cùng một thời điểm”. Người con còn sống mà không nhận di sản vì những lý do khác thì không mở ra cơ chế thế vị cho con của họ. Phần lẽ ra của người đó được chia cho những người thừa kế khác cùng hàng. Đây là quan điểm được áp dụng phổ biến trong thực tiễn, bám sát câu chữ của điều luật.

Thế vị khi có di chúc

Điều 652 nằm trong chương thừa kế theo pháp luật. Vì vậy cơ chế thế vị không làm thay đổi nội dung một di chúc hợp pháp.

Nhưng có một tình huống hai cơ chế giao nhau. Di chúc chỉ định một người con hưởng tài sản, và người con đó chết trước người lập di chúc. Theo điểm a khoản 2 Điều 643 BLDS, phần di chúc liên quan đến người con đó không có hiệu lực. Theo điểm c khoản 2 Điều 650 BLDS, phần di sản đó được chia theo pháp luật. Khi chia theo pháp luật, con của người con đã chết được thế vị như bình thường.

Kết quả là cháu không nhận trọn phần mà di chúc định cho cha mình. Cháu chỉ nhận suất thế vị trong phần chia theo pháp luật, ngang với các cô, chú, bác. Người lập di chúc muốn cháu nhận đúng phần đó thì nên ghi rõ phương án thay thế: “nếu con tôi là A chết trước tôi thì phần này để lại cho các con của A”. Cách viết điều khoản này được hướng dẫn tại bài mẫu di chúc.

Chết cùng thời điểm

Điều 619 BLDS quy định: những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm, hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước, thì không được thừa kế di sản của nhau. Di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo Điều 652 BLDS.

Tình huống điển hình là tai nạn giao thông khiến cha và con cùng tử vong, hồ sơ không xác định được ai mất trước. Khi đó:

  • Người cha không thừa kế của người con, và người con không thừa kế của người cha.
  • Di sản của người cha chia cho những người thừa kế khác của cha. Con của người con đã mất được thế vị vào vị trí của người con, vì Điều 652 bao gồm cả trường hợp “chết cùng một thời điểm”.
  • Di sản riêng của người con chia cho người thừa kế của người con: vợ, con, mẹ của người con nếu còn sống.

Giấy chứng tử, biên bản khám nghiệm hoặc hồ sơ cấp cứu ghi giờ tử vong có ý nghĩa quyết định trong những hồ sơ này. Chênh lệch vài giờ có thể chuyển một hồ sơ từ thế vị sang thừa kế chuyển tiếp.

Thừa kế chuyển tiếp khi người con chết sau

BLDS không dùng thuật ngữ “thừa kế chuyển tiếp”. Nhưng đây là cách gọi quen thuộc trong giới nghề cho tình huống người thừa kế còn sống vào thời điểm mở thừa kế, sau đó chết trước khi di sản được chia.

Căn cứ của cơ chế này là Điều 614 BLDS: kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Người con còn sống khi bố mất đã có quyền đối với phần di sản của mình ngay tại thời điểm đó, dù chưa ký văn bản nào, chưa nhận tài sản. Khi người con chết, quyền tài sản này trở thành di sản của người con theo Điều 612 BLDS. Nó được chia theo di chúc của người con, hoặc theo pháp luật cho hàng thừa kế của người con.

Hàng thừa kế thứ nhất của người con gồm vợ hoặc chồng, con và cha mẹ của người con. Đây chính là lý do vợ của người em trong ví dụ đầu bài có phần, còn vợ của người anh thì không.

Án lệ 05/2016/AL minh họa một chuỗi mở thừa kế

Án lệ 05/2016/AL cho thấy cơ chế này vận hành qua nhiều thế hệ:

  1. Cụ ông mất năm 1978. Một người con được hưởng một suất di sản của cụ.
  2. Suất đó, theo Luật Hôn nhân và gia đình 1959 áp dụng vào thời điểm ấy, trở thành tài sản chung của người con và vợ.
  3. Người vợ mất năm 1980. Phần của bà trong khối tài sản chung trở thành di sản của bà, chia cho chồng và các con, trong đó có người cháu nội đang sống tại căn nhà.

Nhờ chuỗi này, người cháu dù không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ ông vẫn có một phần trong căn nhà của ông bà, thông qua di sản của chính mẹ mình. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy các bản án trước, một phần vì chưa xem xét đến phần quyền này và công sức của người cháu.

Án lệ này cũng nhắc một điểm quan trọng: tính chất tài sản chung hay riêng của phần thừa kế được xác định theo pháp luật hôn nhân áp dụng tại thời điểm nhận thừa kế. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản được thừa kế riêng là tài sản riêng của vợ, chồng. Với các hồ sơ có chuỗi mở thừa kế kéo dài từ trước năm 1987, việc xác định đúng luật áp dụng ở từng mốc là bắt buộc.

Ví dụ so sánh thế vị và chuyển tiếp

Ông P mất năm 2024, không có di chúc, để lại di sản 1,8 tỷ đồng. Vợ ông P đã mất, cha mẹ ông P đã mất. Ông có ba con: Q, R và S. Con S có vợ là T và một con là U.

Trường hợp 1. S chết năm 2023, trước ông P

Người

Căn cứ

Phần nhận
QHàng thứ nhất600 triệu
RHàng thứ nhất600 triệu
UThế vị vào vị trí S600 triệu
T (vợ của S)Không thuộc hàng thừa kế của ông P, không được thế vị0

Trường hợp 2. S chết năm 2025, sau ông P nhưng trước khi chia

Lần mở thừa kế thứ nhất (ông P chết): Q, R, S mỗi người 600 triệu.

Lần mở thừa kế thứ hai (S chết): suất 600 triệu của S là di sản của S. Giả sử S không có tài sản nào khác, không có di chúc, cha mẹ của S (là ông P và vợ ông P) đều đã mất. Hàng thứ nhất của S gồm T và U, mỗi người 300 triệu.

NgườiPhần cuối cùng từ di sản của ông P
Q600 triệu
R600 triệu
T300 triệu
U300 triệu

Tổng vẫn là 1,8 tỷ. Khác biệt duy nhất là thứ tự hai cái chết, nhưng nó quyết định T có phần hay không và U nhận 600 triệu hay 300 triệu.

Những điểm cần lưu ý khi lập hồ sơ thừa kế

Xác định chính xác ngày mất của từng người. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Nếu người đó bị Tòa án tuyên bố đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định trong quyết định của Tòa án, không phải ngày quyết định có hiệu lực (khoản 1 Điều 611 BLDS). Trong một hồ sơ có nhiều người chết, nên lập bảng ngày mất của từng người trước khi xác định thế vị hay chuyển tiếp. Cách xác định thời điểm mở thừa kế được trình bày tại bài di sản thừa kế.

Mỗi lần mở thừa kế có thời hiệu riêng. Thời hiệu yêu cầu chia di sản là bất động sản là 30 năm, động sản là 10 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế (khoản 1 Điều 623 BLDS). Trong chuỗi chuyển tiếp, thời hiệu chia di sản của ông bà tính từ ngày ông bà mất. Thời hiệu chia di sản của người con tính từ ngày người con mất. Xem bài thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế.

Giấy tờ chứng minh nhánh thế vị. Hồ sơ khai nhận tại tổ chức công chứng cần chứng minh đủ ba quan hệ: quan hệ giữa người để lại di sản và người con đã chết; sự kiện người con chết trước; quan hệ giữa người con đó và các cháu. Thiếu một mắt xích là hồ sơ không được tiếp nhận. Danh mục giấy tờ cụ thể nằm ở bài thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Cháu chưa thành niên được thế vị. Phần thế vị là tài sản riêng của cháu (khoản 1 Điều 75 Luật HNGĐ). Phần này do cha hoặc mẹ còn sống, hoặc người giám hộ, quản lý và chỉ được định đoạt vì lợi ích của cháu (Điều 76, 77 Luật HNGĐ). Khi cả cha lẫn mẹ của cháu đều đã mất, ông bà thường là người giám hộ, như phân tích tại bài quyền của ông bà đối với cháu.

Câu hỏi thường gặp

Là trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Khi đó cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng đã chết thì chắt được hưởng (Điều 652 BLDS).

Không. Con dâu không thuộc hàng thừa kế của bố chồng và không được thế vị. Phần của người chồng đã mất trước được chia cho các con của người chồng theo thế vị. Nếu người chồng không có con, phần đó chia cho những người thừa kế khác cùng hàng.

Có. Điều 652 BLDS không phân biệt cháu nội và cháu ngoại. Con của con gái được thế vị giống con của con trai.

Không. Thế vị chỉ áp dụng khi người con chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Người con còn sống mà bị truất quyền, từ chối hoặc không có quyền hưởng di sản thì không mở ra quyền thế vị cho con của họ.

Phần của người anh đã phát sinh từ lúc bố mất (Điều 614 BLDS) và trở thành di sản của người anh. Phần này chia theo di chúc của người anh, hoặc theo pháp luật cho vợ, con và mẹ của người anh nếu còn sống. Đây là thừa kế chuyển tiếp, không phải thế vị.

Không. Các cháu cùng nhánh chỉ nhận chung phần mà cha hoặc mẹ mình lẽ ra được hưởng, rồi chia đều trong nhánh. Phần đó bằng phần của mỗi cô, chú, bác còn sống.

Khi hồ sơ có nhiều lần mở thừa kế

Hồ sơ thừa kế nhà đất ở các đô thị cũ hiếm khi chỉ có một lần mở thừa kế. Ông bà mất từ thập niên tám mươi, một vài người con mất sau đó, có người mất trước, có người ở nước ngoài. Nhầm thế vị với chuyển tiếp ở một nhánh làm sai phần của mọi người còn lại. Đó cũng là căn cứ để văn bản khai nhận bị phản đối. Bài chia di sản thừa kế trình bày phương pháp lập bảng phân chia theo từng lần mở thừa kế.

Đội ngũ luật sư thừa kế của chúng tôi thường xuyên xử lý các hồ sơ có chuỗi thừa kế kéo dài qua nhiều thế hệ: dựng lại sơ đồ gia đình, xác định luật áp dụng ở từng mốc thời gian, và tính phần của từng nhánh trước khi lập văn bản khai nhận hoặc khởi kiện.

Phân chia di sản không chỉ là thủ tục — đó là việc bảo toàn tài sản và gìn giữ quan hệ gia đình qua các thế hệ. Luật Quốc Ấn tư vấn lập di chúc, khai nhận di sản và cấu trúc chuyển giao tài sản an toàn về pháp lý.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698