Người thi hành di chúc trong pháp luật Việt Nam và cách chỉ định cho đúng

Khách hàng từng sống ở Úc hay Mỹ thường hỏi chúng tôi một câu rất tự nhiên: “Tôi muốn ghi trong di chúc ai là executor, ở Việt Nam viết thế nào?”. Câu trả lời làm nhiều người bất ngờ. Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) không có chế định “người thi hành di chúc” theo nghĩa của hệ thống thông luật, tức một người được tòa xác nhận, nắm toàn bộ di sản, trả nợ rồi chia cho người thừa kế. Những việc mà executor làm ở nước ngoài, luật Việt Nam chia ra cho bốn vai trò khác nhau, và người lập di chúc được quyền chỉ định từng vai trò ngay trong di chúc.

Viết theo thói quen nước ngoài, kiểu “tôi chỉ định ông A làm người thi hành di chúc với toàn quyền định đoạt”, thì đến lúc mở thừa kế điều khoản đó gần như không ai biết áp dụng thế nào.

Tóm tắt

  • BLDS 2015 không dùng thuật ngữ “người thi hành di chúc”. Chức năng tương ứng được chia cho: người giữ di chúc (Điều 641), người công bố di chúc (Điều 647), người quản lý di sản (Điều 616) và người phân chia di sản (Điều 657).
  • Người lập di chúc có quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản theo khoản 5 Điều 626 BLDS; quyền chỉ định người công bố nằm ở khoản 2 Điều 647.
  • Một người có thể kiêm nhiều vai trò. Điều 657 BLDS cho phép người phân chia đồng thời là người quản lý di sản.
  • Người được chỉ định không bắt buộc phải nhận. Nếu họ từ chối hoặc chết trước, người thừa kế thỏa thuận cử người khác (Điều 647, Điều 656).
  • Di chúc không chỉ định được người giám hộ cho con chưa thành niên, nhưng chỉ định được người quản lý phần tài sản để lại cho con (khoản 3 Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
  • Ủy quyền lúc còn sống không thay được việc chỉ định trong di chúc, vì đại diện theo ủy quyền chấm dứt khi người ủy quyền chết (điểm đ khoản 3 Điều 140 BLDS).
  • Không ai trong bốn vai trò trên được tự ý bán, tặng cho, thế chấp di sản. Người quản lý chỉ được định đoạt di sản khi có sự đồng ý bằng văn bản của những người thừa kế (điểm b khoản 1 Điều 617 BLDS).

Vì sao luật Việt Nam không có “executor”

Ở các nước thông luật, khi một người chết, tài sản không chuyển ngay cho người thừa kế. Nó đi qua một “khoảng trung gian”: tòa chứng thực di chúc (probate), cấp cho executor quyền đứng tên tạm thời, executor thu hồi tài sản, trả nợ, nộp thuế, rồi mới giao phần còn lại. Executor vì vậy là một chủ thể pháp lý thực thụ, có thể bị kiện và phải báo cáo trước tòa.

Luật Việt Nam đi con đường khác. Quyền sở hữu di sản chuyển sang người thừa kế kể từ thời điểm mở thừa kế, quyền và nghĩa vụ tài sản phát sinh từ thời điểm đó (Điều 614 BLDS). Không có giai đoạn tài sản “thuộc về” một người trung gian. Những người được chỉ định trong di chúc chỉ giữ, quản lý, công bố hoặc chia di sản thay cho người thừa kế, chứ không đứng tên di sản.

Hệ quả thực tế: dù di chúc chỉ định ai đi nữa, các thủ tục như khai nhận di sản tại tổ chức hành nghề công chứng hay đăng ký sang tên vẫn đòi hỏi người thừa kế tham gia, trực tiếp hoặc qua ủy quyền. Ai đang chuẩn bị di chúc với kỳ vọng “một người lo hết, các con chỉ việc nhận” cần biết giới hạn này để thiết kế cho phù hợp.

04 vai trò thay cho một người thi hành di chúc

Vai trò

Căn cứ BLDS 2015

Bắt đầu khi nào

Việc chính

Ghi chú thực tiễn

Người giữ di chúcĐiều 641Khi người lập di chúc còn sốngGiữ bí mật, bảo quản bản di chúc; giao lại khi người lập di chúc chếtCó thể là tổ chức hành nghề công chứng hoặc cá nhân tin cậy
Người công bố di chúcĐiều 647Sau thời điểm mở thừa kếSao gửi di chúc tới tất cả người có liên quanNếu di chúc gửi giữ tại tổ chức hành nghề công chứng thì công chứng viên công bố
Người quản lý di sảnĐiều 616, 617, 618Từ khi mở thừa kế đến khi chia xongLập danh mục, thu hồi, bảo quản di sản; đại diện người thừa kế với bên thứ baKhông được bán, tặng cho, thế chấp di sản nếu người thừa kế không đồng ý bằng văn bản
Người phân chia di sảnĐiều 656, 657Khi tiến hành chiaChia đúng di chúc hoặc thỏa thuận của người thừa kếCó thể kiêm người quản lý; hưởng thù lao nếu di chúc cho phép

Nếu so với executor ở nước ngoài, ba vai trò công bố, quản lý và phân chia cộng lại là gần nhất. Vì vậy, trong di chúc của khách hàng có tài sản đáng kể, chúng tôi thường đề xuất giao cả ba vai trò cho cùng một người, kèm một người dự phòng.

Người giữ di chúc

Điều 641 BLDS cho phép người lập di chúc gửi di chúc cho tổ chức hành nghề công chứng hoặc người khác giữ. Người giữ phải giữ bí mật nội dung, bảo quản bản di chúc, báo ngay cho người lập di chúc nếu bản di chúc thất lạc, hư hại, và khi người lập di chúc chết thì giao lại cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố. Việc giao lại phải lập thành văn bản, có chữ ký người giao, người nhận và ít nhất hai người làm chứng.

Vai trò này nghe đơn giản, nhưng không ít tranh chấp bắt đầu từ chỗ di chúc “xuất hiện” muộn vài năm trong tủ của một người con, khi các anh chị em khác đã chia xong theo pháp luật. Chọn đúng người giữ di chúc, hoặc gửi tại tổ chức hành nghề công chứng, là cách rẻ nhất để tránh chuyện này. Cách lập và gửi giữ di chúc tại văn phòng công chứng có trong bài công chứng di chúc.

Người công bố di chúc

Khoản 2 Điều 647 BLDS: nếu người để lại di chúc chỉ định người công bố thì người này có nghĩa vụ công bố. Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc, người nhận bản sao có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc. Di chúc lập bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và có công chứng hoặc chứng thực (khoản 5 Điều 647).

Điểm hay bị bỏ sót: luật dùng chữ “tất cả những người có liên quan”, không chỉ người được hưởng. Người con bị truất quyền, người thuộc diện thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, người được di tặng đều phải nhận được bản sao. Người công bố cố tình bỏ qua ai đó sẽ tạo cớ cho tranh chấp về sau.

Người quản lý di sản

Đây là vai trò nặng nhất. Người được chỉ định quản lý di sản phải lập danh mục di sản, thu hồi tài sản thuộc di sản mà người khác đang chiếm hữu, bảo quản di sản, thông báo tình trạng di sản cho người thừa kế và giao lại khi có yêu cầu (Điều 617 BLDS). Đổi lại, họ được đại diện người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba, được thanh toán chi phí bảo quản và hưởng thù lao theo thỏa thuận với người thừa kế (Điều 618 BLDS).

Quyền và nghĩa vụ của vai trò này, cùng các tình huống người đang giữ tài sản không chịu bàn giao, đã được phân tích riêng trong bài người quản lý di sản. Ở đây chỉ cần nhớ một giới hạn: người quản lý không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt di sản bằng hình thức khác nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản (điểm b khoản 1 Điều 617 BLDS). Chỉ cần một người thừa kế không ký là việc bán tài sản bị chặn. Nếu người lập di chúc muốn một tài sản cụ thể được bán, chẳng hạn bán xe để trả nợ ngân hàng, thì nên ghi rõ trong di chúc, gắn với mục đích cụ thể, để người thừa kế có căn cứ đồng ý và người quản lý có căn cứ thực hiện; quyền này không thể suy ra từ chức danh “người quản lý”.

Người phân chia di sản

Điều 657 BLDS quy định người phân chia di sản có thể đồng thời là người quản lý di sản, phải chia đúng di chúc hoặc thỏa thuận của những người thừa kế, và được hưởng thù lao nếu người để lại di sản cho phép trong di chúc hoặc những người thừa kế có thỏa thuận.

Nguyên tắc chia, kể cả cách chia hiện vật hay chia giá trị, được trình bày ở bài chia di sản thừa kế.

Câu “nếu người để lại di sản cho phép trong di chúc” là lý do nên viết thù lao ngay trong di chúc. Không có câu đó, người phân chia chỉ được trả khi tất cả người thừa kế đồng ý, và chính những người đang mâu thuẫn với nhau thường khó đồng ý về khoản tiền trả cho người đứng giữa.

Cách viết điều khoản chỉ định trong di chúc

Một điều khoản chỉ định dùng được cần trả lời năm câu hỏi: ai, làm vai trò gì, nếu người đó không làm được thì ai thay, được trả bao nhiêu, được làm gì và không được làm gì ngoài quy định chung của luật.

Mẫu tham khảo chúng tôi hay dùng làm điểm xuất phát:

Điều 5. Chỉ định người công bố, quản lý và phân chia di sản

  1. Tôi chỉ định ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1975, CCCD số …, là người công bố di chúc, người quản lý di sản và người phân chia di sản của tôi.
  2. Trường hợp ông A chết trước tôi, từ chối hoặc không còn đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện, tôi chỉ định bà Trần Thị B, sinh năm 1980, CCCD số …, thay thế với đầy đủ các vai trò nêu trên.
  3. Người thực hiện các vai trò tại khoản 1 được hưởng thù lao bằng 1% tổng giá trị di sản được phân chia, và được thanh toán các chi phí hợp lý có chứng từ trước khi chia.
  4. Người quản lý di sản được bán chiếc xe ô tô biển số … để thanh toán khoản vay tại Ngân hàng …; phần còn lại nhập vào di sản để chia theo Điều 3 của di chúc này.

Vài lưu ý khi chỉnh mẫu cho từng hồ sơ:

  • Ghi rõ vai trò bằng thuật ngữ của BLDS. “Người thi hành di chúc” có thể dùng thêm cho dễ hiểu, nhưng phải kèm liệt kê “người công bố di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản” để không ai tranh luận về phạm vi.
  • Luôn có người dự phòng. Thời gian từ lúc lập di chúc đến lúc mở thừa kế có thể vài chục năm. Người được chọn hôm nay có thể chết trước, ra nước ngoài, hoặc xung đột với gia đình.
  • Thù lao nên có công thức. Tỷ lệ phần trăm trên giá trị di sản hoặc một khoản cố định. Mức nào là hợp lý tùy quy mô tài sản và mức độ phức tạp; điều quan trọng là có căn cứ để không phải thỏa thuận lại.
  • Quyền bán tài sản phải gắn với tài sản cụ thể và mục đích cụ thể. Một câu chung chung “được toàn quyền định đoạt di sản” vừa trái với Điều 617 BLDS, vừa dễ bị đọc là người lập di chúc giao di sản cho người đó, làm phát sinh tranh chấp về giải thích nội dung di chúc theo Điều 648 BLDS.

Mẫu di chúc đầy đủ các phần còn lại có trong bài mẫu di chúc.

Chọn ai làm người thi hành di chúc

Luật không giới hạn đối tượng. Người được chỉ định có thể là người thừa kế, người ngoài gia đình, luật sư, hoặc một tổ chức. Trên thực tế, mỗi lựa chọn có cái giá riêng:

Lựa chọn

Ưu điểm

Rủi ro

Phù hợp khi

Một người con, người thừa kếHiểu gia đình, không tốn thù laoXung đột lợi ích, các anh chị em khác nghi ngờGia đình hòa thuận, di sản đơn giản
Người thân không hưởng di sản (anh em của người lập di chúc, bạn thân)Trung lập hơnTuổi tác gần người lập di chúc, có thể mất trướcCần một người “đứng giữa” có uy tín
Luật sư, tổ chức hành nghề luật sưChuyên môn, có trách nhiệm nghề nghiệpChi phí; người thừa kế có thể coi là người ngoàiDi sản lớn, nhiều loại tài sản, có yếu tố nước ngoài, gia đình đã có mâu thuẫn
Kết hợp: một người thân làm chính, luật sư hỗ trợCân bằng niềm tin và chuyên mônPhải phân vai rõ trong di chúcPhần lớn hồ sơ có giá trị lớn

Với hồ sơ có người thừa kế đang mâu thuẫn, chúng tôi gần như không khuyên chọn một người trong số họ làm người phân chia. Người đó có quyền theo luật, nhưng mỗi quyết định của họ đều bị đọc là thiên vị, và vụ việc rất dễ đi thẳng ra tòa.

Khi người được chỉ định từ chối hoặc không còn

Không có quy định nào buộc người được chỉ định phải nhận. Khoản 2 Điều 647 BLDS đã tính trước trường hợp người được chỉ định công bố di chúc từ chối: những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người công bố. Với người quản lý và người phân chia, điểm a khoản 1 Điều 656 BLDS cho phép người thừa kế họp mặt để cử người quản lý, người phân chia “nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc”. Thực tiễn áp dụng tương tự khi người được chỉ định từ chối hoặc đã chết, vì hậu quả là di chúc không còn ai đảm nhận vai trò đó.

Nếu người thừa kế không thỏa thuận được, khoản 2 Điều 616 BLDS giữ nguyên trạng: người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý cho đến khi cử được người khác. Đây chính là tình huống người lập di chúc muốn tránh, vì người đang giữ tài sản thường là người có lợi nhất khi việc chia kéo dài. Một người dự phòng ghi sẵn trong di chúc giải quyết được phần lớn rủi ro này.

Vì sao ủy quyền không thay được di chúc

Nhiều người muốn đi đường tắt: lập hợp đồng ủy quyền cho một người con “toàn quyền quản lý, định đoạt tài sản”, nghĩ rằng sau khi mình mất, người con cứ dùng giấy ủy quyền đó để lo liệu. Cách này không có tác dụng sau khi người ủy quyền chết.

Điểm đ khoản 3 Điều 140 BLDS quy định đại diện theo ủy quyền chấm dứt khi người được đại diện là cá nhân chết. Khoản 3 Điều 422 BLDS cũng quy định hợp đồng chấm dứt khi cá nhân giao kết chết mà hợp đồng phải do chính người đó thực hiện. Từ thời điểm mở thừa kế, mọi giao dịch nhân danh người đã chết dựa trên giấy ủy quyền cũ đều không có căn cứ, và nếu người được ủy quyền vẫn ký bán tài sản thì giao dịch đó có thể bị yêu cầu tuyên vô hiệu, đồng thời phát sinh trách nhiệm với các đồng thừa kế. Tình huống này được phân tích thêm ở bài tự ý bán tài sản thừa kế.

Ủy quyền vẫn có ích, nhưng cho giai đoạn người lập di chúc còn sống mà sức khỏe yếu. Muốn có người lo liệu sau khi mất thì phải viết vào di chúc.

Những việc người thi hành di chúc không làm thay được

Từ góc độ người lập di chúc, đây là phần cần nói thẳng để tránh kỳ vọng sai:

Không thay người thừa kế ký văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia. Thủ tục tại tổ chức hành nghề công chứng vẫn cần chữ ký của người thừa kế hoặc người được họ ủy quyền. Người phân chia có thể chuẩn bị hồ sơ, điều phối, nhưng không đứng tên thay. Quy trình cụ thể có trong bài thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Không chỉ định được người giám hộ cho con chưa thành niên. Đây là khác biệt lớn với di chúc ở nước ngoài, nơi cha mẹ thường ghi luôn “guardian” trong di chúc. BLDS xác định người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên theo thứ tự luật định tại Điều 52 (anh chị cả, rồi ông bà, rồi cô dì chú bác), và nếu không có thì Ủy ban nhân dân cấp xã cử theo Điều 54. Ý nguyện ghi trong di chúc có thể là căn cứ tham khảo khi các bên thỏa thuận hoặc khi tòa giải quyết tranh chấp, nhưng không có giá trị ràng buộc như một quyết định chỉ định. Điều người lập di chúc làm được là tách việc quản lý tài sản khỏi việc giám hộ. Khoản 3 Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép người để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho con chỉ định người khác quản lý phần tài sản đó. Cha mẹ ly hôn, không muốn người vợ hoặc chồng cũ nắm phần di sản để lại cho con, thường dùng đúng quy định này. Khi con mồ côi, tài sản không có người được chỉ định quản lý sẽ do người giám hộ quản lý theo Điều 59 BLDS, với các giới hạn khá chặt. Cách quản lý tài sản riêng của con được phân tích ở bài quản lý tài sản của con chưa thành niên. Thứ tự người giám hộ và cách cử người giám hộ được phân tích ở bài giám hộ cho trẻ em.

Không giữ tài sản lâu dài thay người thừa kế. Việt Nam chưa có chế định ủy thác tài sản kiểu trust. Nếu muốn một người con chỉ nhận dần di sản, chẳng hạn mỗi năm một khoản cho đến khi đủ 25 tuổi, thì di chúc không thể “khóa” tài sản trong tay người thi hành di chúc. Các giải pháp thay thế thường dùng là chỉ định người quản lý phần tài sản để lại cho con chưa thành niên theo khoản 3 Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như nêu trên, giao nghĩa vụ cho người thừa kế theo khoản 4 Điều 626 BLDS (ví dụ người con cả nhận nhà và có nghĩa vụ cấp tiền học cho em), di tặng có mục đích theo Điều 646, hoặc chuyển giao một phần tài sản ngay khi còn sống. Mỗi cách đều có điểm yếu riêng về khả năng cưỡng chế, cần thiết kế theo từng gia đình.

Khi tài sản ở nhiều nước

Người có tài sản ở cả Việt Nam và nước ngoài thường đã có executor do tòa nước ngoài chỉ định theo di chúc lập ở đó. Executor này có thẩm quyền đối với tài sản ở nước họ, nhưng với nhà đất ở Việt Nam, thẩm quyền đó không tự động được công nhận. Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản tại Việt Nam được xác định theo pháp luật Việt Nam (khoản 2 Điều 680 BLDS), và thủ tục khai nhận vẫn đi qua tổ chức hành nghề công chứng với chữ ký của người thừa kế.

Cách xử lý gọn nhất là lập hai di chúc phân định rõ phạm vi tài sản, mỗi bản tuân theo pháp luật nơi có tài sản, và trong di chúc Việt Nam chỉ định người công bố, quản lý, phân chia theo BLDS. Chi tiết về luật áp dụng và giấy tờ nước ngoài có trong bài thừa kế có yếu tố nước ngoài.

Câu hỏi thường gặp

Không. Nếu di chúc không chỉ định, người thừa kế tự thỏa thuận cử người công bố, người quản lý, người phân chia theo Điều 647 và Điều 656 BLDS. Chỉ định sẵn giúp rút ngắn giai đoạn đầu và giảm tranh chấp.
Được. Luật không cấm. Nhưng nếu gia đình có dấu hiệu mâu thuẫn, nên chọn người trung lập hoặc ít nhất cho người đó một người cùng làm.

Từ di sản, trước khi chia. Điều 657 BLDS cho phép người phân chia hưởng thù lao nếu di chúc cho phép; Điều 618 cho phép người quản lý hưởng thù lao theo thỏa thuận với người thừa kế. Ghi sẵn trong di chúc là cách chắc chắn nhất.

Người quản lý di sản gây thiệt hại phải bồi thường theo Điều 617 BLDS. Người phân chia chia sai di chúc thì người thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Lộ trình khởi kiện có trong bài khởi kiện chia di sản thừa kế.

Có, khi người lập di chúc còn sống, bằng cách sửa đổi hoặc bổ sung di chúc. Xem bài sửa đổi, hủy bỏ di chúc.

Lời kết

Viết một câu “tôi chỉ định ông A làm người thi hành di chúc” thì dễ. Viết sao cho câu đó có tác dụng khi người lập di chúc không còn để giải thích lại mới là phần khó. Điều khoản chỉ định tốt phải đọc được bằng ngôn ngữ của BLDS, có người dự phòng, có thù lao rõ ràng và không giao cho ai một quyền mà luật không cho phép. Luật sư của chúng tôi có thể rà soát di chúc bạn đang có, soạn điều khoản chỉ định phù hợp với cơ cấu tài sản và quan hệ gia đình, hoặc trực tiếp đảm nhận vai trò công bố, quản lý, phân chia di sản khi được chỉ định.

Phân chia di sản không chỉ là thủ tục — đó là việc bảo toàn tài sản và gìn giữ quan hệ gia đình qua các thế hệ. Luật Quốc Ấn tư vấn lập di chúc, khai nhận di sản và cấu trúc chuyển giao tài sản an toàn về pháp lý.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698