Một câu quảng cáo viết sai có thể đóng cửa cơ sở của bạn 06 tháng

Quảng cáo vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn đã được phê duyệt không chỉ bị phạt tiền – nó kéo theo hình thức tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh từ ba đến sáu tháng. Người tạo ra rủi ro đó thường không phải bác sĩ, mà là người viết nội dung. Chúng tôi rà soát chỗ nối giữa hồ sơ chuyên môn và nội dung truyền thông của bạn, trước khi cơ quan quản lý làm việc đó.

Luật sư trực tiếp phụ trách, không qua trợ lý
Đọc được hồ sơ chuyên môn, không chỉ đọc hồ sơ pháp lý
Rà soát tuân thủ bằng văn bản trước khi ký hợp đồng
Nhận khách hàng trên toàn quốc

TRẢ LỜI NHANH

Từ ngày 15/5/2026, Nghị định 90/2026/NĐ-CP thay thế toàn bộ Nghị định 117/2020 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. Mức phạt tiền tối đa với vi phạm về khám bệnh chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và thiết bị y tế là 100 triệu đồng với cá nhân và 200 triệu đồng với tổ chức; về bảo hiểm y tế là 75 triệu và 150 triệu. Song song, Nghị định 87/2026/NĐ-CP quy định xử phạt trong lĩnh vực quảng cáo, trong đó quảng cáo dịch vụ khám chữa bệnh vượt quá phạm vi chuyên môn được phê duyệt bị phạt 40 đến 60 triệu đồng kèm tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động từ 03 đến 06 tháng. Với thực phẩm bảo vệ sức khỏe, do Nghị định 46/2026 đang bị tạm ngưng hiệu lực, Nghị định 15/2018 vẫn là văn bản đang áp dụng cho thủ tục công bố sản phẩm và xác nhận nội dung quảng cáo. Từ 01/7/2026, thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và giấy xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe được phân cấp về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Nghị quyết 21/2026/NQ-CP.

Cập nhật tháng 8/2026

ĐIỀU ÍT AI NÓI VỚI CHỦ CƠ SỞ Y TẾ

Ba sợi dây nối nhau, và sợi thứ hai cắt đứt sợi thứ ba

Phần lớn rủi ro pháp lý của một cơ sở y tế không đến từ chuyên môn điều trị. Nó đến từ chỗ nối giữa ba thứ mà ba bộ phận khác nhau phụ trách và thường không ai đối chiếu với nhau.

1

Phạm vi hoạt động chuyên môn được phê duyệt

Đây là nội dung ghi trong giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh – do bộ phận chuyên môn và người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật nắm. Cung cấp dịch vụ không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép bị phạt 40 đến 50 triệu đồng, cùng khung với hoạt động khi không có giấy phép hoặc tại địa điểm không ghi trong giấy phép.

Khoản 6 Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP

2

Nội dung quảng cáo – do bộ phận không đọc giấy phép viết ra

Quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hành nghề hoặc vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bị phạt 40 đến 60 triệu đồng. Ngay cả lỗi nhẹ nhất – quảng cáo thiếu tên, địa chỉ, số giấy phép hoạt động, thời gian hoạt động, hoặc thiếu nội dung về phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong giấy phép – cũng bị phạt 15 đến 20 triệu đồng.

Khoản 1 và khoản 4 Điều 75 Nghị định 87/2026/NĐ-CP

3

Giấy phép hoạt động – thứ bị mất

Đây là chỗ chuỗi khép lại. Hình thức xử phạt bổ sung của Điều 75 là tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh: từ 01 đến 03 tháng với lỗi quảng cáo thiếu nội dung, và từ 03 đến 06 tháng với hành vi quảng cáo vượt quá phạm vi chuyên môn. Với một phòng khám hay cơ sở thẩm mỹ đang vận hành, sáu tháng dừng hoạt động không phải khoản phạt – đó là kết thúc.

Khoản 5 Điều 75 Nghị định 87/2026/NĐ-CP

 

Vì sao chuỗi này hay đứt: ba bộ phận, không ai đối chiếu

Người chịu trách nhiệm chuyên môn biết phạm vi được phê duyệt nhưng không đọc bản chạy quảng cáo. Bộ phận truyền thông viết theo nhu cầu thị trường và không biết giấy phép ghi gì. Chủ cơ sở nhìn thấy doanh thu, không nhìn thấy chỗ nối. Đến khi có đoàn kiểm tra thì bằng chứng vi phạm nằm sẵn trên website và trên trang mạng xã hội của chính cơ sở, không cần đi tìm. Đây là loại rủi ro chỉ phòng được, không chữa được – vì nội dung đã phát hành là chứng cứ hoàn chỉnh.

 

Sợi dây thứ tư: điều kiện phải duy trì sau khi đã có giấy phép

Nghị định 90/2026 có một nhóm hành vi ít được chú ý nhưng áp dụng cho mọi cơ sở: không bảo đảm một trong các điều kiện sau khi đã được cấp giấy phép hoạt động. Mức phạt tăng theo quy mô cơ sở – cơ sở thường 3 đến 5 triệu, phòng khám đa khoa 10 đến 20 triệu, bệnh viện dưới 100 giường 20 đến 30 triệu, bệnh viện từ 100 đến 500 giường 30 đến 40 triệu, bệnh viện trên 500 giường 40 đến 50 triệu đồng. Ngụ ý của quy định này rất rõ: giấy phép không phải giấy tờ đã xong, nó là trạng thái phải duy trì liên tục, và cơ sở càng lớn thì nghĩa vụ duy trì càng nặng.

VÙNG RỦI RO SỐ MỘT

Quảng cáo trong ngành y tế và thực phẩm chức năng

Đây là nhóm hành vi bị xử phạt nhiều nhất, và cũng là nhóm duy nhất mà chế tài chạm thẳng vào giấy phép hoạt động. Bảng dưới đây gộp cả hai nhánh: quảng cáo dịch vụ khám chữa bệnh và quảng cáo sản phẩm.

Hành viChế tài với cá nhân
Quảng cáo dịch vụ khám chữa bệnh thiếu tên, địa chỉ, số giấy phép hoạt động, thời gian hoạt động, hoặc thiếu nội dung phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong giấy phép15 – 20 triệu + tước giấy phép hoạt động 01 – 03 tháng
Quảng cáo dịch vụ khám chữa bệnh khi chưa có giấy phép hoạt động hoặc chứng chỉ hành nghề30 – 40 triệu đồng
Quảng cáo vượt quá phạm vi hành nghề hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn đã được phê duyệt40 – 60 triệu + tước giấy phép hoạt động hoặc chứng chỉ hành nghề 03 – 06 tháng
Quảng cáo việc chẩn đoán, lựa chọn giới tính phôi, thai nhi; quảng cáo hoặc môi giới hiến, nhận bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại20 – 30 triệu + tước giấy phép hoạt động 03 – 06 tháng
Quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe mà không có cụm từ “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe”5 – 10 triệu đồng
Quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe thiếu công dụng sản phẩm, cảnh báo sức khỏe, hoặc thiếu khuyến cáo “Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”10 – 15 triệu đồng
Quảng cáo thực phẩm thiếu tên thực phẩm hoặc tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về sản phẩm10 – 15 triệu đồng

Căn cứ Điều 71 và Điều 75 Nghị định 87/2026/NĐ-CP. Mức phạt tiền với tổ chức bằng 02 lần mức với cá nhân. Kèm theo là biện pháp buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo hoặc thu hồi sản phẩm báo in, tạp chí in có quảng cáo vi phạm. Nghị định này còn quy định riêng cho quảng cáo thuốc tại Điều 69, mỹ phẩm tại Điều 70, thiết bị y tế tại Điều 73 và sản phẩm sữa, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ tại Điều 74.

 

Điều bị vi phạm nhiều nhất mà hầu như không ai biết là vi phạm

Khoản 2 Điều 27 Nghị định 15/2018 quy định khi quảng cáo thực phẩm: không sử dụng hình ảnh, thiết bị, trang phục, tên, thư tín của các đơn vị, cơ sở y tế, bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế, thư cảm ơn của người bệnh, bài viết của bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế để quảng cáo thực phẩm. Toàn bộ mô-típ quen thuộc – bác sĩ mặc áo blouse giới thiệu sản phẩm, thư cảm ơn của người dùng đã khỏi bệnh, bài viết chuyên gia y tế – đều nằm trong phạm vi cấm này. Cùng điều luật còn yêu cầu nội dung quảng cáo phải phù hợp với công dụng, tác dụng đã được công bố trong bản công bố sản phẩm, và tổ chức, cá nhân chỉ được quảng cáo sản phẩm đã được cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo và chỉ được quảng cáo phù hợp với nội dung đã xác nhận.

 

Thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo và cái bẫy 90 ngày

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi phải đăng ký nội dung trước khi quảng cáo. Cơ quan tiếp nhận có 10 ngày làm việc để trả kết quả kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, và chỉ được yêu cầu sửa đổi, bổ sung 01 lần. Điểm cần quản lý: sau 90 ngày làm việc kể từ khi có công văn yêu cầu sửa đổi, bổ sung mà tổ chức, cá nhân không sửa đổi thì hồ sơ không còn giá trị – phải làm lại từ đầu. Căn cứ Điều 26 và Điều 27 Nghị định 15/2018.

Nội dung quảng cáo đang chạy của bạn có khớp với phạm vi chuyên môn ghi trong giấy phép không? Gửi thông tin cơ sở để nhận bản rà soát tuân thủ bằng văn bản – đối chiếu giấy phép với nội dung đang phát hành, liệt kê điều kiện phải duy trì, và nêu rõ điểm nào đang có rủi ro. Miễn phí, trước khi quyết định.

CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

Những gì phải giữ đúng sau khi đã có giấy phép

Danh sách dưới đây trích từ chính các hành vi bị xử phạt trong Nghị định 90/2026 – nghĩa là đây là những chỗ cơ quan quản lý thực sự kiểm tra, không phải suy đoán.

Thuê, mượn hoặc cho thuê, cho mượn giấy phép hoạt động30 – 40 triệu đồng. Mô hình hợp tác trong đó một bên góp giấy phép còn bên kia góp vốn và vận hành thường rơi vào đây – cần thiết kế lại cấu trúc hợp tác, không phải chỉnh câu chữ hợp đồng – khoản 5 Điều 39
Sử dụng người hành nghề không có giấy phép hành nghề20 – 30 triệu đồng, gồm cả trường hợp người hành nghề đang bị tước quyền sử dụng, bị thu hồi giấy phép hoặc bị đình chỉ hành nghề – khoản 4 Điều 39
Không cập nhật danh sách đăng ký hành nghề3 – 5 triệu đồng khi thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc thay đổi người hành nghề mà không gửi danh sách đã thay đổi đến cơ quan có thẩm quyền đăng tải – khoản 2 Điều 39
Áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới chưa được phép40 – 50 triệu đồng nếu chưa được phép của Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế – khoản 6 Điều 39. Đây là rủi ro trực tiếp của các cơ sở đưa kỹ thuật mới vào để cạnh tranh
Hồ sơ bệnh án1 – 3 triệu đồng với hành vi không lập hồ sơ bệnh án, lập nhưng không ghi đủ các mục theo mẫu, không lưu trữ theo quy định, hoặc không thực hiện chế độ báo cáo hoạt động khám chữa bệnh – khoản 1 Điều 40
Bảo mật thông tin người bệnh1 – 3 triệu đồng với hành vi làm lộ tình trạng bệnh, thông tin người bệnh cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ các trường hợp được phép – điểm c khoản 3 Điều 38
Niêm yết giá dịch vụ1 – 3 triệu đồng với hành vi yêu cầu người bệnh thanh toán chi phí khám chữa bệnh chưa được niêm yết công khai – điểm b khoản 3 Điều 38
Biển hiệu và tên khoa, phòng1 – 3 triệu đồng khi hoạt động không có biển hiệu, biển hiệu thiếu thông tin cơ bản, hoặc ghi tên các khoa, phòng không đúng với hồ sơ giấy phép hoạt động đã được cấp – khoản 1 Điều 39. Lỗi rất nhỏ nhưng là dấu hiệu đầu tiên đoàn kiểm tra nhìn thấy

 

Nghĩa vụ mới: quy chế hồ sơ bệnh án điện tử là văn bản bắt buộc phải có

Nghị định 90/2026 bổ sung hai hành vi mà nhiều cơ sở chưa biết mình đang vi phạm: không xây dựng, ban hành quy chế lập, cập nhật, quản lý, lưu trữ, sử dụng và an toàn thông tin đối với hồ sơ bệnh án điện tử, và không đáp ứng yêu cầu về công nghệ thông tin để triển khai hồ sơ bệnh án điện tử, mỗi hành vi bị phạt 3 đến 5 triệu đồng theo khoản 2 Điều 39. Điểm đáng chú ý là chế tài nhắm vào việc không có quy chế – tức một tài liệu nội bộ, chứ không phải kết quả vận hành. Đây là loại nghĩa vụ giải quyết được dứt điểm một lần, và chúng tôi soạn tài liệu này ở dạng áp dụng được cho vận hành thực tế, không phải bản ghi nhớ pháp lý để đọc rồi cất.

 

Ranh giới hay nhầm nhất: cơ sở dịch vụ thẩm mỹ và phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ

Hai loại hình này khác nhau về nghĩa vụ pháp lý nhưng giống nhau trong mắt khách hàng, và ranh giới nằm ở chỗ có can thiệp bằng thủ thuật, phẫu thuật hay không. Xác định sai loại hình dẫn tới toàn bộ chuỗi sai theo: sai thủ tục xin phép, sai phạm vi được làm, sai nội dung được quảng cáo – và điểm cuối là hành vi cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh không có giấy phép hoạt động, khung 40 đến 50 triệu đồng, cộng chế tài quảng cáo vượt phạm vi. Đây là nhóm bị xử lý nhiều nhất trên thực tế và cũng là nhóm chúng tôi khuyên rà soát trước tiên.

DOANH NGHIỆP DƯỢC

Hai chế định mới đang thay đổi cách kinh doanh dược

Luật Dược được sửa lớn bởi Luật 44/2024 có hiệu lực từ 01/7/2025, bổ sung hai nhóm quy định mà thị trường còn rất ít nội dung pháp lý: mô hình chuỗi nhà thuốc và kinh doanh dược theo phương thức thương mại điện tử.

Chuỗi nhà thuốc – mô hình mới, nghĩa vụ mới

Định nghĩaChuỗi nhà thuốc là hệ thống các nhà thuốc của một cơ sở tổ chức chuỗi nhà thuốc, hoạt động theo hệ thống quản lý chất lượng thống nhất dưới cùng một tên thương mại – khoản 48 Điều 2 Luật Dược
Người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở tổ chức chuỗiPhải có văn bằng chuyên môn theo điểm a khoản 1 Điều 13 và 02 năm thực hành chuyên môn tại cơ sở dược phù hợp; người này chịu trách nhiệm chuyên môn chung về dược cho các hoạt động của chuỗi – Điều 17a và Điều 47a
Người chịu trách nhiệm chuyên môn của từng nhà thuốcVẫn phải đáp ứng riêng điều kiện tại khoản 1 Điều 18 – nghĩa là mô hình chuỗi không thay thế nghĩa vụ ở từng điểm bán – khoản 2 Điều 17a
Rủi ro về tên thương mạiVì chuỗi hoạt động dưới cùng một tên thương mại, việc bảo hộ nhãn hiệu và tên thương mại trở thành điều kiện vận hành chứ không phải việc làm thêm – xem trang sở hữu trí tuệ

Bán thuốc trực tuyến – bốn giới hạn tuyệt đối

Cấm bán lẻ trực tuyếnThuốc kê đơn (trừ trường hợp cách ly y tế khi có bệnh truyền nhiễm nhóm A đã được thông tin dịch bệnh), thuốc phải kiểm soát đặc biệt, và thuốc thuộc Danh mục thuốc hạn chế bán lẻ – khoản 17 Điều 6
Cấm bán buôn trực tuyếnThuốc phải kiểm soát đặc biệt – khoản 18 Điều 6
Chỉ được dùng ba loại phương tiệnSàn giao dịch thương mại điện tử, ứng dụng thương mại điện tử bán hàng, và website thương mại điện tử bán hàng có chức năng đặt hàng trực tuyến. Kinh doanh thuốc qua phương tiện khác là hành vi bị cấm – khoản 19 Điều 6. Bán thuốc qua mạng xã hội và qua phát trực tiếp không thuộc ba loại phương tiện này
Địa điểm kinh doanhKinh doanh dược tại nơi không phải địa điểm ghi trên Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược là hành vi bị cấm, trừ hoạt động mua bán theo phương thức thương mại điện tử – khoản 2 Điều 6

 

Chế tài nặng nhất trong nhánh dược: cho thuê giấy chứng nhận

Hành vi thuê, mượn, cho thuê, cho mượn hoặc cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược bị phạt 20 đến 30 triệu đồng, nhưng hình thức xử phạt bổ sung mới là điểm chết: tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược từ 22 đến 24 tháng, cộng buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp. Hai năm không được kinh doanh dược là chấm dứt doanh nghiệp trên thực tế. Căn cứ Điều 54 Nghị định 90/2026. Các mô hình trong đó một bên đứng tên giấy chứng nhận còn bên khác vận hành cần được rà soát lại ngay.

Nghị định 90/2026 dành Mục 3 với gần hai mươi điều cho nhánh dược và mỹ phẩm: hành nghề dược, điều kiện kinh doanh, giấy chứng nhận, đăng ký thuốc, sản xuất, bán buôn, bán lẻ, xuất nhập khẩu, bảo quản, kiểm nghiệm, thử thuốc trên lâm sàng, bao bì nhãn thuốc, thuốc phải kiểm soát đặc biệt, quản lý giá thuốc, thông tin thuốc, và công bố sản phẩm mỹ phẩm. Mức phạt tối đa với vi phạm về dược và mỹ phẩm là 100 triệu đồng với cá nhân, 200 triệu đồng với tổ chức.

DOANH NGHIỆP THIẾT BỊ Y TẾ

Vòng đời sản phẩm quyết định nghĩa vụ pháp lý

Nghị định 98/2021 về quản lý thiết bị y tế, hợp nhất tại văn bản 08/VBHN-BYT ngày 06/3/2026, đã qua năm lần sửa đổi. Đây là lĩnh vực mà nghĩa vụ bám theo từng khâu của vòng đời sản phẩm, và doanh nghiệp thường chỉ để ý khâu mình trực tiếp làm.

Phân loạiPhân loại thiết bị y tế quyết định toàn bộ nghĩa vụ về sau. Nghị định 90/2026 có điều riêng xử phạt vi phạm về phân loại – Điều 71
Sản xuất và thử nghiệm lâm sàngĐiều kiện cơ sở sản xuất, thử nghiệm lâm sàng thiết bị y tế – Chương III và Chương IV Nghị định 98/2021; chế tài tại Điều 72 Nghị định 90/2026
Lưu hànhSố lưu hành, công bố tiêu chuẩn áp dụng, đăng ký lưu hành – Chương V Nghị định 98/2021, là chương dài nhất; chế tài tại Điều 73 Nghị định 90/2026
Mua bán và nhập khẩuĐiều kiện mua bán thiết bị y tế và thủ tục nhập khẩu – Chương VI Nghị định 98/2021; chế tài tại Điều 74 và Điều 75 Nghị định 90/2026
Dịch vụ tư vấn kỹ thuật và kiểm địnhĐiều kiện thực hiện dịch vụ tư vấn về kỹ thuật thiết bị y tế và trách nhiệm của kiểm định viên, tổ chức kiểm định – Chương VII Nghị định 98/2021; chế tài tại Điều 77 và Điều 80 Nghị định 90/2026
Quản lý, sử dụng tại cơ sở y tếNghĩa vụ này thuộc về cơ sở y tế sử dụng thiết bị, không phải nhà cung cấp – Chương X Nghị định 98/2021; chế tài tại Điều 79 Nghị định 90/2026. Đây là chỗ hai nhóm khách hàng của chúng tôi gặp nhau và hay đổ lỗi cho nhau

 

Nguyên liệu chứa chất ma túy và tiền chất

Nghị định 98/2021 có hẳn một chương về quản lý nguyên liệu sản xuất thiết bị y tế, chất ngoại kiểm chứa chất ma túy và tiền chất, và Nghị định 90/2026 có điều riêng xử phạt vi phạm về công bố đối với nhóm này tại Điều 76. Doanh nghiệp nhập khẩu vật tư xét nghiệm rất dễ vướng mà không biết, vì sản phẩm không mang hình dáng của thứ bị kiểm soát.

TRẠNG THÁI PHÁP LÝ ĐANG TREO

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe: văn bản nào đang áp dụng?

Đây là câu hỏi mà doanh nghiệp trong ngành đang hỏi nhiều nhất, và câu trả lời không nằm ở một văn bản mà nằm ở một chuỗi.

MốcSự kiện
26/01/2026Nghị định 46/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm được ban hành, thay thế Nghị định 15/2018
27/01/2026Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm
04/02/2026Nghị quyết 09/2026/NQ-CP tạm ngưng hiệu lực hai văn bản trên đến hết 15/4/2026
06/4/2026Nghị quyết 15/2026/NQ-CP thay Nghị quyết 09, tạm ngưng hiệu lực không ấn định thời hạn – cho đến khi Luật An toàn thực phẩm sửa đổi và nghị định hướng dẫn có hiệu lực
Hiện nayNghị định 15/2018/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn tiếp tục có hiệu lực; hồ sơ nộp trước ngày 06/4/2026 tiếp tục được giải quyết theo Nghị định 15/2018

Có một bằng chứng gián tiếp rất chắc: Nghị quyết 21/2026/NQ-CP ban hành ngày 29/4/2026, tức sau Nghị quyết 15/2026, khi phân cấp thẩm quyền cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe đã dẫn chiếu khoản 5 Điều 27 Nghị định 15/2018 – không dẫn Nghị định 46/2026. Đây là khối có tuổi thọ ngắn và chúng tôi rà soát định kỳ.

Theo Nghị định 15/2018 đang áp dụng, doanh nghiệp làm gì

Tự công bố sản phẩmÁp dụng cho thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, dụng cụ chứa đựng và vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Hồ sơ gồm bản tự công bố và phiếu kết quả kiểm nghiệm trong thời hạn 12 tháng tính đến ngày nộp. Ngay sau khi tự công bố, tổ chức được quyền sản xuất, kinh doanh và chịu trách nhiệm hoàn toàn về an toàn sản phẩm – Điều 4 và Điều 5
Đăng ký bản công bố sản phẩmBắt buộc với thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi, và phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới – Điều 6
Thời hạn thẩm định21 ngày làm việc với thực phẩm bảo vệ sức khỏe; 07 ngày làm việc với thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ đến 36 tháng tuổi và phụ gia hỗn hợp có công dụng mới – khoản 2 Điều 8
Nộp ở đâuBộ Y tế với thực phẩm bảo vệ sức khỏe và phụ gia thuộc thẩm quyền Bộ; cơ quan do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định với các nhóm còn lại. Nếu có từ hai cơ sở sản xuất trở lên cùng sản xuất một sản phẩm thì chỉ đăng ký tại một cơ quan và các lần sau phải giữ nguyên cơ quan đã chọn – khoản 1 Điều 8
Phải công bố lại khi nàoKhi sản phẩm thay đổi tên sản phẩm, xuất xứ, thành phần cấu tạo thì phải tự công bố lại. Các thay đổi khác chỉ cần thông báo bằng văn bản và được kinh doanh ngay sau khi gửi thông báo – khoản 4 Điều 5
Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩmBắt buộc khi hoạt động, trừ mười một trường hợp tại khoản 1 Điều 12 – trong đó đáng chú ý là cơ sở đã có một trong các chứng nhận GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 hoặc tương đương còn hiệu lực thì không thuộc diện phải cấp. Riêng cơ sở sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe phải đạt Thực hành sản xuất tốt GMP – Điều 11, Điều 12, Điều 28 và Điều 29

Cập nhật tháng 8/2026 – khối này rà soát lại khi Luật An toàn thực phẩm sửa đổi được thông qua

BẢO HIỂM Y TẾ

Dòng tiền định kỳ và quyền tranh chấp mà ít cơ sở dùng đến

Với cơ sở khám chữa bệnh có hợp đồng bảo hiểm y tế, đây là nguồn thu lớn nhất và cũng là rủi ro dòng tiền lớn nhất. Luật quy định rõ hai chiều: nghĩa vụ hồ sơ đúng hạn ở một đầu, và quyền tranh chấp ở đầu kia.

Tạm ứng hằng quýTrong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo quyết toán quý trước, cơ quan bảo hiểm xã hội tạm ứng một lần bằng 90% chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo báo cáo quyết toán quý trước – điểm a khoản 1 Điều 32
Cơ sở ký hợp đồng lần đầuCăn cứ chi phí của tháng trước khi ký hợp đồng, cơ quan bảo hiểm xã hội tạm ứng 90% kinh phí cho tháng đầu tiên; sau một tháng thực hiện hợp đồng thì chuyển sang cơ chế tạm ứng theo quý – điểm b khoản 1 Điều 32
Nghĩa vụ hồ sơ của cơ sởGửi bản tổng hợp đề nghị thanh toán chi phí của tháng trước trong 15 ngày đầu mỗi tháng; gửi báo cáo quyết toán chi phí của quý trước trong 15 ngày đầu mỗi quý – điểm a khoản 2 Điều 32. Trễ hạn ở đây kéo theo trễ tạm ứng của cả quý sau
Giám định bảo hiểm y tếLà bước quyết định phần chi phí nào được chấp nhận thanh toán – Điều 29. Toàn bộ tranh chấp xuất toán bắt nguồn từ đây, và hồ sơ bệnh án là chứng cứ duy nhất
Quyền tranh chấp của cơ sởLuật xác định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là một bên trong tranh chấp về bảo hiểm y tế, ngang hàng với cơ quan bảo hiểm xã hội. Cơ chế: các bên tự hòa giải; hòa giải không thành thì có quyền khởi kiện tại Tòa án – Điều 48
Rủi ro ngược chiềuNghị định 90/2026 dành Mục 5 xử phạt vi phạm về bảo hiểm y tế với mức tối đa 75 triệu đồng với cá nhân và 150 triệu đồng với tổ chức, trong đó có hành vi lạm dụng dịch vụ y tế – chỉ định và sử dụng thuốc, hóa chất, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật quá định mức tối đa hoặc quá mức cần thiết so với quy định chuyên môn kỹ thuật

 

Bị xuất toán không phải là kết thúc

Trên thực tế, phần lớn cơ sở coi kết quả giám định là quyết định cuối cùng và chấp nhận mất khoản chi phí bị từ chối thanh toán. Điều 48 Luật Bảo hiểm y tế không quy định như vậy: đó là tranh chấp, giải quyết bằng hòa giải trước và bằng Tòa án sau nếu hòa giải không thành. Việc quyết định có theo đuổi hay không phụ thuộc vào giá trị khoản bị xuất toán, chất lượng hồ sơ bệnh án và tính chất của căn cứ từ chối. Chúng tôi đánh giá ba yếu tố đó bằng con số trước khi khuyến nghị, thay vì khuyên khởi kiện theo phản xạ.

Nghĩa vụ đóng bảo hiểm y tế cho người lao động

Chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm y tế theo Điều 48a và Điều 48b Luật Bảo hiểm y tế áp dụng cho mọi người sử dụng lao động, không riêng ngành y tế, nên được xử lý tại trang luật sư lao động cùng với khám sức khỏe định kỳ và bệnh nghề nghiệp.

ÁP DỤNG TỪ 01/7/2026

Thẩm quyền vừa đổi: nộp sai cửa là mất thời gian

Nghị quyết 21/2026/NQ-CP ngày 29/4/2026 phân cấp một loạt thủ tục hành chính y tế về địa phương, và cắt giảm nhiều điều kiện kinh doanh. Nhưng nghị quyết này có bốn mốc hiệu lực khác nhau – đọc nhầm mốc là làm sai thủ tục.

MốcNội dung có hiệu lực
29/4/2026Nghị quyết có hiệu lực chung, trừ các nội dung nêu dưới
01/7/2026Điều 2 – phân cấp thẩm quyền thực hiện thủ tục hành chính về y tế
01/7/2027Điều 3 và khoản 1 Điều 4 – cắt giảm điều kiện kinh doanh và bãi bỏ một số thủ tục hành chính
01/01/2028Toàn bộ Nghị quyết hết hiệu lực

Ba nhóm thủ tục chuyển về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh từ 01/7/2026

Giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnhCấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ, thu hồi – bao gồm cả chứng chỉ hành nghề đã cấp theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 – khoản 3 Điều 2
Giấy xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏeThủ tục quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị định 15/2018 chuyển về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh – khoản 1 Điều 2
Nhập khẩu mẫu bệnh phẩmThủ tục đề nghị nhập khẩu mẫu bệnh phẩm về kiểm dịch y tế biên giới – khoản 2 Điều 2

 

Một quy tắc áp dụng đảo ngược thứ tự thông thường

Khoản 6 Điều 6 Nghị quyết 21/2026 quy định: trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực, nếu quy định về thủ tục hành chính hoặc điều kiện kinh doanh trong Nghị quyết khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì thực hiện theo Nghị quyết này. Nghĩa là trong giai đoạn này, tra một nghị định chuyên ngành và làm theo nó có thể vẫn sai. Thêm nữa, khoản 4 Điều 6 quy định nếu có luật, pháp lệnh hoặc nghị định mới ban hành về cùng nội dung thì quy định tương ứng trong Nghị quyết hết hiệu lực ngay tại thời điểm văn bản đó có hiệu lực – tức bản đồ thẩm quyền này còn có thể thay đổi giữa chừng.

 

Hồ sơ nộp trước ngày Nghị quyết có hiệu lực

Khoản 5 Điều 6 quy định hồ sơ đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hoặc đã được đóng dấu bưu chính trước ngày Nghị quyết có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định đang có hiệu lực tại thời điểm hồ sơ được tiếp nhận. Với doanh nghiệp có nhiều hồ sơ đang chạy song song ở nhiều cơ quan, việc xác định từng hồ sơ theo mốc nào là công việc cần làm bằng bảng, không làm bằng trí nhớ.

CÁCH CHÚNG TÔI PHỤC VỤ NGÀNH NÀY

Ngành y tế không cần luật sư theo vụ, mà cần một người theo suốt

Rủi ro pháp lý của một cơ sở y tế hay một doanh nghiệp dược không đến thành từng vụ việc rời rạc. Nó tích tụ hằng ngày qua nội dung quảng cáo được đăng, hồ sơ được lập, người hành nghề được tuyển, sản phẩm được đưa ra thị trường. Vì vậy mô hình phù hợp không phải thuê luật sư khi có chuyện, mà là có một người rà soát định kỳ.

1

Rà soát tuân thủ ban đầu – miễn phí

Đối chiếu phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong giấy phép với nội dung truyền thông đang phát hành; liệt kê các điều kiện phải duy trì theo loại hình và quy mô cơ sở; kiểm tra tình trạng hồ sơ nhân sự hành nghề và các tài liệu nội bộ bắt buộc phải có. Kết quả là một văn bản nêu rõ điểm nào đang có rủi ro và mức độ.

2

Xử lý dứt điểm nhóm rủi ro tồn đọng

Soạn hoặc chỉnh các tài liệu bắt buộc như quy chế hồ sơ bệnh án điện tử; điều chỉnh phạm vi hoạt động chuyên môn nếu thực tế đã vượt giấy phép; hoàn thiện hồ sơ đăng ký người hành nghề; xử lý nội dung quảng cáo đang vi phạm trước khi bị lập biên bản. Đây là nhóm việc có điểm kết thúc rõ ràng.

3

Rà soát định kỳ theo hợp đồng luật sư riêng

Kiểm tra nội dung truyền thông trước khi phát hành; theo dõi thay đổi văn bản trong ngành và cảnh báo sớm; hỗ trợ khi có đoàn kiểm tra hoặc khi nhận biên bản vi phạm hành chính. Hình thức này phù hợp với cơ sở có hoạt động truyền thông thường xuyên và doanh nghiệp có danh mục sản phẩm đang mở rộng.

Xem chi tiết tại dịch vụ luật sư riêng

 

Chúng tôi phục vụ cơ sở y tế và doanh nghiệp, không nhận kiện cơ sở y tế

Đây là lựa chọn có chủ đích và chúng tôi nói rõ ngay từ đầu. Luật sư đại diện cho các cơ sở khám chữa bệnh, doanh nghiệp dược và thiết bị y tế thì không thể đồng thời nhận vụ việc của người bệnh khởi kiện chính nhóm khách hàng đó – đó là xung đột lợi ích không thể khắc phục bằng thỏa thuận. Vụ việc bồi thường thiệt hại giữa người bệnh và cơ sở y tế thuộc chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và không nằm trong phạm vi trang này.

PHẠM VI DỊCH VỤ

Từ giấy phép đầu tiên đến rà soát định kỳ

Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh: cấp mới, điều chỉnh, bổ sung phạm vi chuyên môn
Giấy phép hành nghề, hồ sơ đăng ký hành nghề và quản lý nhân sự chuyên môn
Rà soát nội dung quảng cáo dịch vụ y tế, thuốc, thực phẩm và thiết bị y tế trước khi phát hành
Đăng ký, xác nhận nội dung quảng cáo và xử lý hồ sơ bị yêu cầu sửa đổi
Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược, mô hình chuỗi nhà thuốc, bán thuốc trực tuyến
Đăng ký lưu hành thuốc, công bố sản phẩm mỹ phẩm và các thủ tục liên quan
Phân loại, lưu hành, mua bán và nhập khẩu thiết bị y tế; dịch vụ tư vấn kỹ thuật
Tự công bố và đăng ký bản công bố thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học
Hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, xử lý xuất toán và tranh chấp với cơ quan bảo hiểm xã hội
Quy chế hồ sơ bệnh án điện tử, bảo mật thông tin người bệnh và tài liệu nội bộ bắt buộc
Hỗ trợ khi có thanh tra, kiểm tra; giải trình và khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Rà soát tuân thủ định kỳ và cảnh báo thay đổi văn bản pháp luật trong ngành

Vấn đề liên quan được xử lý tại trang riêng

Cấu trúc sở hữu, góp vốn và quản trị chuỗi phòng khám tại trang luật sư doanh nghiệp; dự án bệnh viện có giao đất, thuê đất hoặc có nhà đầu tư nước ngoài, cùng ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại trang luật sư đầu tư; hợp đồng phân phối dược phẩm, hợp đồng cung cấp thiết bị và hợp đồng hợp tác chuyên môn tại trang tư vấn hợp đồng; nhãn hiệu phòng khám, tên chuỗi nhà thuốc và bao bì sản phẩm tại trang sở hữu trí tuệ; hợp đồng lao động với người hành nghề, khám sức khỏe định kỳ và bệnh nghề nghiệp tại trang luật sư lao động.

Vụ việc giữa người bệnh và cơ sở y tế

Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tai biến trong khám chữa bệnh thuộc chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và được xử lý tại trang luật sư dân sự. Chúng tôi không nhận nhóm vụ việc này để tránh xung đột lợi ích với khách hàng là cơ sở y tế và doanh nghiệp trong ngành.

CHI PHÍ

Ba nhóm việc, ba cách tính phí khác nhau

Nhóm thủ tục

Giấy phép hoạt động, giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược, công bố sản phẩm, đăng ký lưu hành, xác nhận nội dung quảng cáo. Phạm vi xác định được trước nên phí báo trọn gói theo từng thủ tục, kèm bảng liệt kê riêng các khoản phí, lệ phí nộp cho cơ quan nhà nước.

Nhóm rà soát tuân thủ và tư vấn thường xuyên

Rà soát ban đầu là miễn phí. Từ giai đoạn xử lý tồn đọng trở đi, phí tính theo số loại hình hoạt động, số sản phẩm trong danh mục và khối lượng nội dung truyền thông cần rà soát. Hình thức rà soát định kỳ theo hợp đồng luật sư riêng tính phí theo tháng hoặc quý, có mức trần số giờ, và được chốt trước bằng văn bản. Đây là nhóm dịch vụ chính của trang này.

Nhóm xử lý vi phạm và tranh chấp

Giải trình khi có biên bản vi phạm hành chính, khiếu nại quyết định xử phạt, tranh chấp xuất toán với cơ quan bảo hiểm xã hội. Không có mức cố định vì phụ thuộc giai đoạn vụ việc và tình trạng hồ sơ hiện có. Thù lao xác định theo giá trị vụ việc, khối lượng tài liệu và việc có phải đưa ra Tòa án hay không.

Khi tranh chấp phải ra Tòa án

Vụ án không có giá ngạch chịu mức án phí sơ thẩm cố định: 300.000 đồng với tranh chấp dân sự và 3.000.000 đồng với tranh chấp kinh doanh thương mại. Vụ án có giá ngạch tính theo bậc: 5% giá trị tranh chấp đến 400 triệu đồng; 20 triệu đồng cộng 4% phần vượt 400 triệu; 36 triệu đồng cộng 3% phần vượt 800 triệu; 72 triệu đồng cộng 2% phần vượt 2 tỷ; 112 triệu đồng cộng 0,1% phần vượt 4 tỷ đồng. Tạm ứng án phí với vụ án có giá ngạch bằng 50% mức Tòa án dự tính nhưng tối thiểu không thấp hơn mức án phí không có giá ngạch, theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Nếu các bên thỏa thuận được khi Tòa án hòa giải trước khi mở phiên tòa thì chỉ chịu 50% mức án phí, kể cả vụ án không có giá ngạch, theo khoản 7 Điều 26. Chi phí tố tụng như giám định, định giá áp dụng Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15, thời hạn nộp tạm ứng 07 ngày kể từ ngày nhận thông báo.

Mọi con số được chốt bằng văn bản trong hợp đồng dịch vụ pháp lý trước khi bắt đầu. Không phát sinh ngoài thỏa thuận.

Cập nhật tháng 8/2026 – theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 và Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15

QUY TRÌNH LÀM VIỆC

Bốn bước rõ ràng

1

Tiếp nhận

Mô tả cơ sở và hoạt động qua biểu mẫu hoặc hotline

2

Rà soát tuân thủ

Nhận văn bản rà soát tuân thủ miễn phí

3

Đề xuất dịch vụ

Báo phương án và phí dịch vụ minh bạch

4

Triển khai

Ký hợp đồng, luật sư phụ trách theo suốt

VÌ SAO CHỌN LUẬT QUỐC ẤN

Cách chúng tôi làm việc

Đọc được hồ sơ chuyên môn, không chỉ đọc hồ sơ pháp lý

Luật sư điều hành có nền đào tạo về y bên cạnh đào tạo luật. Điều đó có nghĩa cụ thể là: đối chiếu được nội dung quảng cáo với phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong giấy phép, đọc được hồ sơ bệnh án khi có tranh chấp xuất toán bảo hiểm y tế, và hiểu quy trình chuyên môn khi đánh giá một biên bản vi phạm. Đây là năng lực làm việc, không phải danh xưng hành nghề y.

Làm việc trên văn bản có hiệu lực từ 15/5/2026

Nghị định 90/2026 thay thế toàn bộ Nghị định 117/2020 về xử phạt lĩnh vực y tế, và Nghị định 87/2026 thay khung xử phạt về quảng cáo. Nhiều nội dung đang lưu hành, kể cả từ nguồn chuyên ngành, vẫn dẫn văn bản cũ. Chúng tôi đối chiếu luật với nghị định cho từng vụ việc và ghi rõ căn cứ trong văn bản gửi khách hàng.

Phòng trước, vì nhóm rủi ro này không chữa được

Nội dung quảng cáo đã phát hành là chứng cứ hoàn chỉnh, không rút lại được. Hồ sơ bệnh án lập thiếu không bổ sung ngược được. Vì vậy trọng tâm dịch vụ của chúng tôi là rà soát trước khi phát hành và trước khi có đoàn kiểm tra, thay vì giải trình sau khi đã có biên bản.

Luật sư phụ trách trực tiếp từ đầu đến cuối

Người rà soát hồ sơ cho bạn ở buổi đầu cũng chính là người xử lý công việc về sau. Không đổi tay giữa chừng, không chuyển xuống trợ lý sau khi ký hợp đồng.

Ai phụ trách công việc của bạn

Công việc do luật sư điều hành trực tiếp phụ trách và theo suốt, với sự tham gia của luật sư cộng sự khi tính chất công việc cần. Người tư vấn cho bạn ở buổi đầu cũng là người làm việc cùng bạn khi có đoàn kiểm tra.

Xem hồ sơ luật sư điều hành

NGUYÊN TẮC NGHỀ NGHIỆP

Chúng tôi cam kết điều làm được, và nói rõ điều không

 

Không tư vấn mô hình cho thuê, cho mượn giấy phép

Chúng tôi không thiết kế các cấu trúc trong đó một bên đứng tên giấy phép hoạt động hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược còn bên khác vận hành thực tế. Ngoài vấn đề đạo đức nghề nghiệp, chế tài rất nặng: cho thuê giấy phép hoạt động khám chữa bệnh bị phạt 30 đến 40 triệu đồng, còn cho thuê giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược kéo theo tước quyền sử dụng từ 22 đến 24 tháng.

 

Không giúp hợp thức hóa quảng cáo vượt phạm vi chuyên môn

Khi nội dung truyền thông vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được phê duyệt, hướng xử lý đúng là điều chỉnh phạm vi trong giấy phép hoặc thu hẹp nội dung quảng cáo – không phải viết lại câu chữ cho khó bắt lỗi. Chúng tôi nói rõ điều này ngay cả khi phương án đúng làm chậm kế hoạch truyền thông của khách hàng.

 

Không cam kết chắc chắn được cấp phép hoặc được xác nhận nội dung

Kết quả phụ thuộc thẩm định của cơ quan chuyên môn và các điều kiện kỹ thuật cụ thể của cơ sở. Chúng tôi đưa ra đánh giá xác suất kèm lý do và nêu rõ các điểm yếu đã nhận diện trong hồ sơ, thay vì một lời hứa không kiểm chứng được.

 

Không đại diện cho người bệnh kiện cơ sở y tế

Chúng tôi phục vụ các cơ sở khám chữa bệnh và doanh nghiệp trong ngành, nên không nhận vụ việc của người bệnh khởi kiện chính nhóm khách hàng đó. Đây là xung đột lợi ích không khắc phục được bằng thỏa thuận, và chúng tôi nói rõ ngay từ buổi làm việc đầu tiên thay vì để phát hiện về sau.

 

Bảo mật là nghĩa vụ, không phải lời hứa xã giao

Giữ bí mật thông tin thân chủ là nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và nghĩa vụ pháp lý của luật sư. Thông tin về hồ sơ chuyên môn, danh mục sản phẩm chưa công bố, kế hoạch mở rộng và dữ liệu người bệnh được bảo mật ngay cả khi bạn chưa sử dụng dịch vụ.

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP

Những điều bạn cần biết

Nghị định 90/2026/NĐ-CP ban hành ngày 30/3/2026, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, thay thế Nghị định 117/2020/NĐ-CP. Mức phạt tiền tối đa được phân theo nhóm lĩnh vực: vi phạm về khám bệnh chữa bệnh, dược, mỹ phẩm và thiết bị y tế là 100 triệu đồng với cá nhân và 200 triệu đồng với tổ chức; về bảo hiểm y tế là 75 triệu và 150 triệu; về y tế dự phòng và phòng chống HIV/AIDS là 50 triệu và 100 triệu; về dân số là 30 triệu và 60 triệu đồng.
Theo khoản 4 Điều 75 Nghị định 87/2026/NĐ-CP, hành vi quảng cáo vượt quá phạm vi hành nghề hoặc vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bị phạt tiền từ 40 đến 60 triệu đồng đối với cá nhân. Quan trọng hơn khoản tiền là hình thức xử phạt bổ sung tại khoản 5: tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh hoặc chứng chỉ hành nghề trong thời hạn từ 03 đến 06 tháng. Kèm theo là biện pháp buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo.
Theo khoản 1 Điều 75 Nghị định 87/2026/NĐ-CP, quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phải có tên, địa chỉ, số giấy phép hoạt động, thời gian hoạt động của cơ sở, và nội dung về phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh. Thiếu một trong các nội dung này bị phạt từ 15 đến 20 triệu đồng đối với cá nhân, kèm tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động từ 01 đến 03 tháng. Đây là mức chế tài rất nặng so với tính chất của lỗi, nên cần rà soát toàn bộ nội dung đang phát hành.
Không. Khoản 2 Điều 27 Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định khi quảng cáo thực phẩm, không được sử dụng hình ảnh, thiết bị, trang phục, tên, thư tín của các đơn vị, cơ sở y tế, bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế, thư cảm ơn của người bệnh, bài viết của bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế để quảng cáo thực phẩm. Quy định này bao trùm toàn bộ mô-típ quen thuộc trên thị trường: bác sĩ mặc áo blouse giới thiệu sản phẩm, thư cảm ơn của người dùng, bài viết chuyên gia y tế. Cùng điều luật còn yêu cầu nội dung quảng cáo phải phù hợp với công dụng, tác dụng đã được công bố trong bản công bố sản phẩm.
Theo khoản 3 Điều 27 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe phải có khuyến cáo “Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”, chữ viết rõ ràng và có màu tương phản với màu nền. Quảng cáo trên báo nói, báo hình phải đọc rõ khuyến cáo này; riêng trường hợp thời lượng ngắn dưới 15 giây thì không phải đọc nhưng vẫn phải thể hiện khuyến cáo trong quảng cáo. Vi phạm bị phạt từ 10 đến 15 triệu đồng đối với cá nhân theo Điều 71 Nghị định 87/2026/NĐ-CP; riêng việc thiếu cụm từ “Thực phẩm bảo vệ sức khỏe” bị phạt từ 5 đến 10 triệu đồng.
Theo Điều 26 Nghị định 15/2018/NĐ-CP: thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, và sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi không thuộc trường hợp cấm quảng cáo theo Điều 7 Luật Quảng cáo. Khoản 6 Điều 27 quy định rõ tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo và tổ chức, cá nhân phát hành quảng cáo chỉ được tiến hành quảng cáo sản phẩm đã được cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo, và chỉ được quảng cáo phù hợp với nội dung đã được xác nhận.
Theo điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm xem xét hồ sơ và trả kết quả. Cơ quan tiếp nhận chỉ được yêu cầu sửa đổi, bổ sung 01 lần, và có 10 ngày làm việc để trả lời kể từ khi nhận hồ sơ sửa đổi. Cần lưu ý một mốc dễ bị bỏ qua: sau 90 ngày làm việc kể từ khi có công văn yêu cầu sửa đổi, bổ sung mà tổ chức, cá nhân không sửa đổi thì hồ sơ không còn giá trị và phải làm lại từ đầu.
Rất nhiều. Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi không bảo đảm một trong các điều kiện sau khi đã được cấp giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, với mức phạt tăng theo quy mô cơ sở: từ 3 đến 5 triệu đồng với cơ sở thông thường; 10 đến 20 triệu với phòng khám đa khoa; 20 đến 30 triệu với bệnh viện dưới 100 giường; 30 đến 40 triệu với bệnh viện từ 100 đến 500 giường; và 40 đến 50 triệu với bệnh viện trên 500 giường. Điều này có nghĩa giấy phép là trạng thái phải duy trì liên tục, và cơ sở càng lớn thì nghĩa vụ duy trì càng nặng.
Theo khoản 6 Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, phạt từ 40 đến 50 triệu đồng đối với cá nhân cho các hành vi: cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động, đang trong thời gian bị đình chỉ, hoặc tại địa điểm không được ghi trong giấy phép; cung cấp dịch vụ không đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép trừ trường hợp cấp cứu hoặc theo quyết định huy động khi có thiên tai, thảm họa, dịch bệnh nhóm A; và áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám chữa bệnh mà chưa được phép của Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế.
Theo khoản 5 Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, cả hành vi thuê, mượn giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh và hành vi cho thuê, cho mượn giấy phép đều bị phạt từ 30 đến 40 triệu đồng đối với cá nhân. Trên thực tế, nhiều mô hình hợp tác trong đó một bên góp giấy phép còn bên kia góp vốn và vận hành có nguy cơ bị xác định là thuộc nhóm hành vi này. Hướng xử lý đúng là thiết kế lại cấu trúc hợp tác về mặt pháp nhân và quản trị chứ không phải chỉnh câu chữ hợp đồng.
Theo điểm a khoản 4 Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, phạt từ 20 đến 30 triệu đồng đối với hành vi sử dụng người hành nghề không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, hoặc người đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng, bị thu hồi giấy phép, bị đình chỉ hành nghề. Song song, khoản 2 Điều 39 phạt từ 3 đến 5 triệu đồng nếu cơ sở không gửi danh sách đăng ký hành nghề đã thay đổi đến cơ quan có thẩm quyền khi thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật hoặc thay đổi người hành nghề.
Có. Khoản 2 Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP phạt từ 3 đến 5 triệu đồng với hành vi không xây dựng, ban hành quy chế lập, cập nhật, quản lý, lưu trữ, sử dụng và an toàn thông tin đối với hồ sơ bệnh án điện tử, và với hành vi không đáp ứng yêu cầu về công nghệ thông tin để triển khai hồ sơ bệnh án điện tử. Điểm đáng chú ý là chế tài nhắm vào việc không có quy chế, tức một tài liệu nội bộ, nên đây là loại nghĩa vụ có thể giải quyết dứt điểm một lần.
Theo điểm c khoản 3 Điều 38 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, phạt từ 1 đến 3 triệu đồng với hành vi làm lộ tình trạng bệnh, thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án. Ngoại lệ gồm trường hợp người bệnh đồng ý, hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh, hoặc các trường hợp khác được pháp luật quy định. Mức phạt tiền không lớn, nhưng hệ quả về uy tín và về trách nhiệm dân sự với người bệnh thì lớn hơn nhiều.
Đây là ranh giới bị nhầm nhiều nhất và cũng là nơi phát sinh xử phạt nhiều nhất. Hai loại hình khác nhau về nghĩa vụ pháp lý, và ranh giới nằm ở chỗ hoạt động có can thiệp bằng thủ thuật, phẫu thuật hay không. Xác định sai loại hình dẫn tới chuỗi sai kéo theo: sai thủ tục xin phép, sai phạm vi được thực hiện, sai nội dung được quảng cáo. Điểm cuối của chuỗi này là hành vi cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh không có giấy phép hoạt động, khung phạt 40 đến 50 triệu đồng theo khoản 6 Điều 39 Nghị định 90/2026, cộng thêm chế tài về quảng cáo vượt phạm vi. Đây là nhóm chúng tôi khuyên rà soát trước tiên.
Chuỗi nhà thuốc là chế định được bổ sung vào Luật Dược bởi Luật 44/2024, có hiệu lực từ 01/7/2025. Theo khoản 48 Điều 2 Luật Dược, chuỗi nhà thuốc là hệ thống các nhà thuốc của một cơ sở tổ chức chuỗi nhà thuốc, hoạt động theo hệ thống quản lý chất lượng thống nhất dưới cùng một tên thương mại. Điều 17a quy định người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của cơ sở tổ chức chuỗi phải có văn bằng chuyên môn theo điểm a khoản 1 Điều 13 và có 02 năm thực hành chuyên môn tại cơ sở dược phù hợp; người chịu trách nhiệm chuyên môn của từng nhà thuốc trong chuỗi vẫn phải đáp ứng riêng điều kiện tại khoản 1 Điều 18.
Được, nhưng có bốn giới hạn tuyệt đối theo Điều 6 Luật Dược. Thứ nhất, cấm bán lẻ theo phương thức thương mại điện tử đối với thuốc kê đơn (trừ trường hợp cách ly y tế khi có bệnh truyền nhiễm nhóm A đã được thông tin dịch bệnh), thuốc phải kiểm soát đặc biệt, và thuốc thuộc Danh mục thuốc hạn chế bán lẻ. Thứ hai, cấm bán buôn theo phương thức thương mại điện tử đối với thuốc phải kiểm soát đặc biệt. Thứ ba, chỉ được kinh doanh thuốc qua sàn giao dịch thương mại điện tử, ứng dụng thương mại điện tử bán hàng, hoặc website thương mại điện tử bán hàng có chức năng đặt hàng trực tuyến. Thứ tư, kinh doanh dược tại nơi không phải địa điểm ghi trên Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược là hành vi bị cấm, trừ hoạt động mua bán theo phương thức thương mại điện tử.
Khoản 19 Điều 6 Luật Dược liệt kê ba loại phương tiện được phép: sàn giao dịch thương mại điện tử, ứng dụng thương mại điện tử bán hàng, và website thương mại điện tử bán hàng có chức năng đặt hàng trực tuyến. Kinh doanh thuốc, nguyên liệu làm thuốc theo phương thức thương mại điện tử thông qua các phương tiện không thuộc ba loại này là hành vi bị nghiêm cấm. Vì vậy các mô hình bán thuốc qua trang mạng xã hội hoặc qua phát trực tiếp cần được rà soát lại về phương tiện giao dịch, không chỉ về nội dung quảng cáo.
Đây là chế tài nặng nhất trong nhánh dược. Theo Điều 54 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, hành vi thuê, mượn, cho thuê, cho mượn hoặc cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược để kinh doanh dược bị phạt từ 20 đến 30 triệu đồng, kèm hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược trong thời hạn từ 22 đến 24 tháng, và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp thu được. Hai năm không được kinh doanh dược trên thực tế là chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp.
Nghị định 98/2021/NĐ-CP, hợp nhất tại văn bản 08/VBHN-BYT ngày 06/3/2026 sau năm lần sửa đổi, quy định nghĩa vụ theo từng khâu của vòng đời sản phẩm: phân loại thiết bị y tế, sản xuất, thử nghiệm lâm sàng, lưu hành, mua bán, nhập khẩu, dịch vụ thiết bị y tế, quản lý nguyên liệu sản xuất và chất ngoại kiểm chứa chất ma túy và tiền chất, thông tin thiết bị y tế, và quản lý sử dụng tại cơ sở y tế. Tương ứng, Nghị định 90/2026 dành Mục 4 với mười điều từ Điều 71 đến Điều 80 để xử phạt từng nhóm hành vi. Doanh nghiệp thường chỉ để ý khâu mình trực tiếp thực hiện mà bỏ qua nghĩa vụ ở khâu liền trước hoặc liền sau.
Nghị định 15/2018 đang áp dụng. Chuỗi sự kiện như sau: Nghị định 46/2026/NĐ-CP ban hành ngày 26/01/2026 thay thế Nghị định 15/2018, cùng với Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP ngày 27/01/2026 về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm. Ngày 04/02/2026, Nghị quyết 09/2026/NQ-CP tạm ngưng hiệu lực hai văn bản trên đến hết ngày 15/4/2026. Ngày 06/4/2026, Nghị quyết 15/2026/NQ-CP thay thế Nghị quyết 09 và tạm ngưng hiệu lực không ấn định thời hạn, cho đến khi Luật An toàn thực phẩm sửa đổi và nghị định hướng dẫn có hiệu lực. Trong thời gian tạm ngưng, Nghị định 15/2018 và các văn bản hướng dẫn tiếp tục có hiệu lực; hồ sơ nộp trước ngày 06/4/2026 tiếp tục được giải quyết theo Nghị định 15/2018.
Theo Điều 4 Nghị định 15/2018, tự công bố áp dụng cho thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm và vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Theo Điều 6, phải đăng ký bản công bố sản phẩm đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi, và phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới. Sản phẩm và nguyên liệu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ sản xuất nội bộ, không tiêu thụ trong nước, được miễn thủ tục tự công bố.
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 15/2018, thời hạn thẩm định hồ sơ và cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm là 21 ngày làm việc đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe, và 07 ngày làm việc đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi, và phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới. Thời gian được tính từ thời điểm hồ sơ được nộp trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến hoặc theo dấu đến của cơ quan tiếp nhận.
Theo khoản 4 Điều 5 Nghị định 15/2018, phải tự công bố lại khi sản phẩm có sự thay đổi về tên sản phẩm, xuất xứ, hoặc thành phần cấu tạo. Với các thay đổi khác, tổ chức, cá nhân chỉ cần thông báo bằng văn bản về nội dung thay đổi đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và được sản xuất, kinh doanh sản phẩm ngay sau khi gửi thông báo. Cần lưu ý thêm quy định về cơ quan tiếp nhận: nếu có từ hai cơ sở sản xuất trở lên cùng sản xuất một sản phẩm thì chỉ nộp tại một cơ quan do mình lựa chọn, và các lần sau phải nộp tại đúng cơ quan đã chọn trước đó.
Khoản 1 Điều 12 Nghị định 15/2018 liệt kê mười một trường hợp, gồm sản xuất ban đầu nhỏ lẻ; sản xuất, kinh doanh thực phẩm không có địa điểm cố định; sơ chế nhỏ lẻ; kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ; kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn; sản xuất, kinh doanh dụng cụ và vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm; nhà hàng trong khách sạn; bếp ăn tập thể không có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm; kinh doanh thức ăn đường phố; và cơ sở đã được cấp một trong các chứng nhận GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 hoặc tương đương còn hiệu lực. Các cơ sở này vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng. Riêng cơ sở sản xuất thực phẩm bảo vệ sức khỏe phải đạt Thực hành sản xuất tốt GMP theo Điều 28.
Có. Điều 48 Luật Bảo hiểm y tế xác định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là một bên trong tranh chấp về bảo hiểm y tế, ngang hàng với cơ quan bảo hiểm xã hội, người tham gia và tổ chức đóng bảo hiểm y tế. Cơ chế giải quyết gồm hai bước: các bên tranh chấp có trách nhiệm tự hòa giải về nội dung tranh chấp; trường hợp hòa giải không thành thì các bên có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật. Trên thực tế nhiều cơ sở coi kết quả giám định là quyết định cuối cùng, trong khi luật không quy định như vậy.
Theo khoản 1 Điều 32 Luật Bảo hiểm y tế, việc tạm ứng được thực hiện hằng quý: trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo quyết toán quý trước của cơ sở, cơ quan bảo hiểm xã hội tạm ứng một lần bằng 90% chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo báo cáo quyết toán quý trước. Với cơ sở lần đầu ký hợp đồng, căn cứ chi phí của tháng trước khi ký, cơ quan bảo hiểm xã hội tạm ứng 90% kinh phí cho tháng đầu tiên, sau đó chuyển sang cơ chế theo quý.
Theo điểm a khoản 2 Điều 32 Luật Bảo hiểm y tế, trong 15 ngày đầu mỗi tháng cơ sở khám chữa bệnh bảo hiểm y tế phải gửi bản tổng hợp đề nghị thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế của tháng trước cho cơ quan bảo hiểm xã hội; và trong 15 ngày đầu mỗi quý phải gửi báo cáo quyết toán chi phí của quý trước. Hai mốc này gắn trực tiếp với cơ chế tạm ứng: báo cáo quyết toán quý trước là căn cứ để cơ quan bảo hiểm xã hội tạm ứng 90% cho quý sau, nên trễ hạn ở đây kéo theo trễ dòng tiền của cả quý tiếp theo.
Nghị định 90/2026/NĐ-CP xác định lạm dụng dịch vụ y tế trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm việc chỉ định và sử dụng thuốc, hóa chất, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật và dịch vụ y tế khác quá định mức tối đa hoặc quá mức độ cần thiết so với quy định của pháp luật về chuyên môn kỹ thuật y tế, làm thiệt hại đến quyền lợi của đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, cơ sở khám chữa bệnh hoặc quỹ bảo hiểm y tế. Mức phạt tiền tối đa với vi phạm về bảo hiểm y tế là 75 triệu đồng với cá nhân và 150 triệu đồng với tổ chức.
Theo khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 21/2026/NQ-CP, việc cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh, đình chỉ và thu hồi giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh – bao gồm cả chứng chỉ hành nghề đã được cấp theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 – thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, với hồ sơ và thủ tục theo Phụ lục III của Nghị quyết. Quy định tại Điều 2 Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 theo khoản 2 Điều 6, nên hồ sơ nộp trước và sau mốc này đi theo hai đường khác nhau.
Nghị quyết có bốn mốc. Theo Điều 6, Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 29/4/2026 đến ngày 01/01/2028. Quy định tại Điều 2 về phân cấp thẩm quyền có hiệu lực từ 01/7/2026. Quy định tại Điều 3 và khoản 1 Điều 4 về cắt giảm điều kiện kinh doanh và bãi bỏ một số thủ tục hành chính có hiệu lực từ 01/7/2027. Ngoài ra, nếu trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực mà có luật, pháp lệnh, nghị định mới ban hành quy định về cùng nội dung thì các quy định tương ứng trong Nghị quyết hết hiệu lực tại thời điểm văn bản đó có hiệu lực.
Theo khoản 6 Điều 6 Nghị quyết 21/2026/NQ-CP, trong thời gian các quy định của Nghị quyết có hiệu lực, nếu quy định về thủ tục hành chính hoặc điều kiện kinh doanh trong Nghị quyết khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thuộc thẩm quyền của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thì thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này. Đây là quy tắc áp dụng cần lưu ý trong giai đoạn hiện nay, vì tra một nghị định chuyên ngành và làm đúng theo nó vẫn có thể sai.
Theo khoản 5 Điều 6 Nghị quyết 21/2026/NQ-CP, đối với hồ sơ đề nghị giải quyết thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực quy định tại Điều 2, Điều 3 và Điều 4 của Nghị quyết đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, hoặc đã được đóng dấu bưu chính trước ngày Nghị quyết có hiệu lực, thì thực hiện theo quy định của pháp luật đang có hiệu lực điều chỉnh trong lĩnh vực đó tại thời điểm hồ sơ được tiếp nhận. Với doanh nghiệp có nhiều hồ sơ chạy song song, việc xác định từng hồ sơ theo mốc nào nên làm bằng bảng theo dõi, không làm bằng trí nhớ.
Không. Chúng tôi phục vụ các cơ sở khám chữa bệnh, doanh nghiệp dược, thiết bị y tế và thực phẩm chức năng, nên không nhận vụ việc của người bệnh khởi kiện chính nhóm khách hàng đó. Đây là xung đột lợi ích không thể khắc phục bằng thỏa thuận. Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tai biến trong khám chữa bệnh thuộc chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và được xử lý tại trang luật sư dân sự của chúng tôi bởi luật sư khác, hoặc chúng tôi giới thiệu sang đơn vị phù hợp nếu có xung đột.
Không mất phí. Bản rà soát tuân thủ ban đầu gồm: đối chiếu phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong giấy phép với nội dung truyền thông đang phát hành; liệt kê các điều kiện phải duy trì theo loại hình và quy mô cơ sở; kiểm tra tình trạng hồ sơ nhân sự hành nghề; và rà soát các tài liệu nội bộ bắt buộc phải có. Kết quả là một văn bản nêu rõ điểm nào đang có rủi ro và mức độ, để bạn quyết định trước khi sử dụng dịch vụ.
Không nên ký nhận nội dung mình không đồng ý và cũng không nên bỏ qua thời hạn giải trình. Việc cần làm ngay là xác định chính xác hành vi bị quy kết thuộc điều khoản nào, mức phạt và đặc biệt là có kèm hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép hay không – vì đó mới là phần ảnh hưởng lớn nhất. Sau đó rà soát căn cứ, chuẩn bị tài liệu giải trình, và cân nhắc hướng khiếu nại nếu có cơ sở. Chúng tôi đánh giá khả năng thành công bằng văn bản trước, thay vì khuyên khiếu nại theo phản xạ.
Có. Luật Quốc Ấn có trụ sở tại Hà Nội nhưng nhận khách hàng trong lĩnh vực y tế và dược phẩm trên toàn quốc. Phần lớn công việc rà soát tuân thủ và tư vấn thường xuyên thực hiện được từ xa; chúng tôi có mặt trực tiếp tại các giai đoạn quan trọng như làm việc với đoàn thanh tra, kiểm tra hoặc tại phiên tòa.
Có. Giữ bí mật thông tin thân chủ là nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và nghĩa vụ pháp lý của luật sư. Thông tin về hồ sơ chuyên môn, danh mục sản phẩm chưa công bố, kế hoạch mở rộng cơ sở, dữ liệu người bệnh và các tài liệu nội bộ khác được bảo mật ngay cả khi bạn chưa sử dụng dịch vụ.

Biết mình đang sai ở đâu trước khi đoàn kiểm tra biết

Gửi thông tin cơ sở để nhận bản rà soát tuân thủ bằng văn bản – đối chiếu giấy phép với nội dung đang phát hành, liệt kê điều kiện phải duy trì, nêu rõ điểm nào đang có rủi ro và mức độ. Miễn phí, trước khi bạn quyết định.