Trong vụ án hình sự, thời điểm luật sư tham gia quyết định phần lớn kết quả
Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can; trường hợp bị bắt, tạm giữ thì từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở Cơ quan điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Đó là thời điểm sớm nhất pháp luật cho phép — và cũng là thời điểm quyền của người bị buộc tội dễ bị bỏ qua nhất.
Luật sư hình sự bào chữa cho người bị buộc tội và bảo vệ quyền lợi cho bị hại từ giai đoạn tố giác, điều tra đến xét xử và thi hành án. Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự, người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can; trường hợp bị bắt, tạm giữ thì từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở Cơ quan điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày, có thể gia hạn tối đa hai lần, mỗi lần không quá 03 ngày, và mọi trường hợp gia hạn đều phải được Viện kiểm sát phê chuẩn. Thời hạn tạm giam để điều tra không quá 02 tháng với tội ít nghiêm trọng, 03 tháng với tội nghiêm trọng, 04 tháng với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam và được trừ vào thời hạn tạm giam. Thù lao luật sư trong vụ án hình sự có mức trần luật định: không quá 0,3 lần mức lương cơ sở cho một giờ làm việc.
Đây là những mốc mà gia đình người bị buộc tội cần nắm để biết vụ việc đang ở đâu và khi nào phải có động thái. Mỗi mốc đều có thủ tục phê chuẩn hoặc gia hạn kèm theo — và mỗi lần gia hạn là một thời điểm có thể đề nghị xem xét lại biện pháp ngăn chặn.
Tạm giữ — tối đa 09 ngày nếu gia hạn đủ hai lần
Thời hạn ban đầuKhông quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải về trụ sở, hoặc từ khi ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú — khoản 1 Điều 118
Gia hạn lần mộtTrường hợp cần thiết, không quá 03 ngày
Gia hạn lần haiTrường hợp đặc biệt, không quá 03 ngày. Tổng cộng tối đa 09 ngày
Bắt buộc phê chuẩnMọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn — khoản 2 Điều 118
Không đủ căn cứ khởi tốPhải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay — khoản 3 Điều 118
Được trừ vào tạm giamMột ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam — khoản 4 Điều 118
Tạm giam để điều tra — thời hạn theo loại tội
Loại tội phạm
Thời hạn ban đầu
Gia hạn
Tối đa
Ít nghiêm trọng
02 tháng
Một lần, không quá 01 tháng
03 tháng
Nghiêm trọng
03 tháng
Một lần, không quá 02 tháng
05 tháng
Rất nghiêm trọng
04 tháng
Một lần, không quá 03 tháng
07 tháng
Đặc biệt nghiêm trọng
04 tháng
Hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng
12 tháng
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Thời hạn nêu trên là thời hạn tạm giam để điều tra, chưa bao gồm thời hạn tạm giam ở các giai đoạn truy tố và xét xử.
Mỗi lần gia hạn là một thời điểm có thể tác động
Theo khoản 2 Điều 173, chậm nhất 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn — và điều kiện là không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam. Đây chính là khoảng thời gian mà việc cung cấp tài liệu, chứng cứ về nhân thân, nơi cư trú rõ ràng, khả năng bảo lĩnh có thể tạo ra căn cứ để đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn. Biết trước mốc này là biết trước khi nào cần hành động.
Thẩm quyền gia hạn tạm giam thuộc Viện kiểm sát nào
Theo khoản 3 Điều 173: Viện kiểm sát nhân dân khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gia hạn lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, và gia hạn lần thứ hai nếu hết thời hạn lần một mà chưa kết thúc điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an thụ lý thì thẩm quyền gia hạn thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Cập nhật tháng 7/2026
QUYỀN CẦN BIẾT NGAY
Thời điểm người bào chữa được tham gia, và quyền của người bị buộc tội
Người bào chữa tham gia từ thời điểm nào
Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Riêng trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra.
Quyền của người bị buộc tội
Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền được biết lý do mình bị bắt, bị tạm giữ, bị khởi tố; được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đây là các quyền được quy định tại các Điều 58, 59, 60 và 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tương ứng với từng tư cách tố tụng.
Quyền không tự buộc tội mình là quyền, không phải hành vi bất hợp tác
Việc người bị buộc tội không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội là quyền được pháp luật ghi nhận. Trên thực tế nhiều người không dám thực hiện quyền này vì lo bị đánh giá là không thành khẩn. Hiểu đúng ranh giới giữa việc trình bày trung thực và việc không buộc phải tự buộc tội là một trong những nội dung đầu tiên chúng tôi trao đổi với thân chủ.
Cơ quan tiến hành tố tụng sau khi tổ chức lại
Cơ quan Cảnh sát điều traTổ chức theo hai cấp gồm Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, theo Thông tư 11/2025/TT-BCA. Không còn Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện
Viện kiểm sátViện kiểm sát nhân dân khu vực thay cho viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trước đây; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên
Tòa ánTòa án nhân dân khu vực thay cho tòa án nhân dân cấp huyện trước đây
PHẠM VI DỊCH VỤ
Bảo vệ ở mọi giai đoạn tố tụng
Tư vấn và đánh giá sơ bộ vụ việc, xác định rủi ro và hướng xử lý
Tham gia từ giai đoạn điều tra: hỏi cung, lấy lời khai, đối chất
Bào chữa cho bị can, bị cáo tại sơ thẩm, phúc thẩm
Bảo vệ quyền lợi bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
Thu thập tài liệu, chứng cứ có lợi cho thân chủ, đề nghị giám định
Đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, xin tại ngoại, bảo lĩnh
Soạn thảo đơn từ, kiến nghị, khiếu nại trong tố tụng
Kháng cáo, đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và giai đoạn thi hành án
Vụ việc của bạn đan xen mảng khác?
Vụ án hình sự hiếm khi chỉ là hình sự. Phần dân sự trong vụ án và bồi thường thiệt hại xử lý theo nguyên tắc tại trang luật sư dân sự; tranh chấp về quyền sử dụng đất liên quan tại trang luật sư đất đai; vụ việc khởi nguồn từ khoản nợ tại trang luật sư thu hồi nợ; vụ việc liên quan trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp tại trang luật sư doanh nghiệp. Vụ việc đan xen vẫn do cùng một luật sư phụ trách.
Người thân đang bị tạm giữ hoặc tạm giam? Gọi trực tiếp để được hướng dẫn ngay những việc cần làm và các mốc thời hạn cần theo dõi. Đánh giá sơ bộ vụ việc bằng văn bản là miễn phí.
Thù lao luật sư trong vụ án hình sự có mức trần luật định
Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa vụ án hình sự và mọi loại vụ việc khác về mặt chi phí, và cũng là điều rất ít nơi nói ra. Với vụ án hình sự, pháp luật đặt mức trần cho thù lao luật sư — nghĩa là con số không thể tùy ý.
Không quá 0,3 lần mức lương cơ sở cho một giờ làm việc
Khoản 1 Điều 56 Luật Luật sư quy định đối với vụ án hình sự mà luật sư tham gia tố tụng thì mức thù lao không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định. Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP quy định mức thù lao do khách hàng và tổ chức hành nghề thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý, tính theo giờ hoặc trọn gói theo vụ việc, nhưng mức cao nhất cho 01 giờ làm việc của luật sư không được vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở. Với mức lương cơ sở 2.530.000 đồng áp dụng từ 01/7/2026 theo Nghị định 161/2026/NĐ-CP, mức trần này tương đương 759.000 đồng cho một giờ làm việc.
Căn cứ tính thù laoNội dung và tính chất của dịch vụ pháp lý; thời gian và công sức của luật sư; kinh nghiệm và uy tín của luật sư — khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư
Phương thức tínhTheo giờ làm việc hoặc trọn gói theo vụ việc, thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý — Điều 18 Nghị định 123/2013
Vụ án do cơ quan tố tụng yêu cầu luật sưMức thù lao trả cho 01 ngày làm việc là 0,4 lần mức lương cơ sở, tương đương 1.012.000 đồng — Điều 19 Nghị định 123/2013
Chi phí đi lại, lưu trúNgoài thù lao, luật sư được thanh toán chi phí tàu xe, lưu trú theo quy định về chế độ công tác phí trong quá trình chuẩn bị và tham gia bào chữa
Miễn giảmNghị định khuyến khích tổ chức hành nghề luật sư miễn, giảm thù lao cho người nghèo và đối tượng chính sách
Án phí hình sự
Áp dụng theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm khi bị kết tội. Phần dân sự trong vụ án hình sự — bồi thường thiệt hại — chịu án phí dân sự theo giá trị tranh chấp, tính theo bậc từ 5% với phần đến 400 triệu đồng, giảm dần đến 0,1% với phần vượt 4 tỷ đồng. Bị hại yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự không phải nộp tạm ứng án phí.
Chi phí tố tụng
Khoản riêng theo Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15, gồm chi phí giám định, chi phí định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng và người chứng kiến, phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm, chi phí thù lao cho bào chữa viên nhân dân. Thù lao người làm chứng, người chứng kiến là 200.000 đồng một người một ngày; chi phí thù lao cho bào chữa viên nhân dân là 700.000 đồng một người một ngày; phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm là 900.000 đồng một người một ngày.
Chúng tôi báo thù lao rõ bằng văn bản trong hợp đồng dịch vụ pháp lý trước khi bắt đầu, kèm bảng ước tính riêng cho án phí và chi phí tố tụng. Không phát sinh ngoài thỏa thuận.
Cập nhật tháng 7/2026 — theo Luật Luật sư, Nghị định 123/2013/NĐ-CP, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 và Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15
QUY TRÌNH LÀM VIỆC
Bốn bước rõ ràng
1
Tiếp nhận
Mô tả vụ việc qua biểu mẫu hoặc hotline
2
Đánh giá sơ bộ
Nhận văn bản đánh giá sơ bộ vụ việc miễn phí
3
Đề xuất dịch vụ
Báo phương án và phí dịch vụ minh bạch
4
Triển khai
Ký hợp đồng, luật sư phụ trách theo suốt vụ việc
VÌ SAO CHỌN LUẬT QUỐC ẤN
Cách chúng tôi làm việc
Tham gia sớm, đúng thời điểm pháp luật cho phép
Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự cho phép người bào chữa tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở Cơ quan điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Chúng tôi ưu tiên tiếp nhận nhanh các vụ việc đang ở giai đoạn này, vì đó là lúc quyền của thân chủ dễ bị bỏ qua nhất.
Theo dõi các mốc thời hạn thay cho gia đình
Thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam theo từng loại tội, mốc 10 ngày trước khi hết hạn mà Cơ quan điều tra phải đề nghị gia hạn — mỗi mốc là một thời điểm có thể đề nghị xem xét lại biện pháp ngăn chặn. Gia đình thường không biết các mốc này, và bỏ lỡ thì phải chờ đến lần sau.
Đánh giá bằng văn bản trước khi bạn quyết định
Mỗi vụ việc được đánh giá sơ bộ bằng văn bản — bạn biết rõ tình huống pháp lý, các mốc thời hạn đang chạy và hướng xử lý trước khi ký bất kỳ hợp đồng nào.
Nhìn vụ việc rộng hơn khung điều luật
Một vụ án hình sự hiếm khi chỉ là hình sự — nó thường đan xen dân sự, đất đai, tài chính, doanh nghiệp, và luôn gắn với hoàn cảnh con người phía sau. Luật Quốc Ấn xử lý vụ việc trong toàn bộ bối cảnh của nó, tìm phương án tối ưu trên thực tế, không chỉ đúng trên giấy.
Ai phụ trách vụ việc của bạn
Vụ việc do luật sư điều hành trực tiếp phụ trách và theo suốt, với sự tham gia của luật sư cộng sự khi tính chất vụ việc cần. Người tư vấn cho bạn ở buổi đầu cũng là người ngồi cùng bạn tại phiên tòa.
Chúng tôi cam kết điều làm được, và nói rõ điều không
Không cam kết kết quả xét xử
Không ai có thể đảm bảo kết quả một vụ án, và một luật sư cam kết điều đó là điều đáng ngờ. Điều chúng tôi cam kết là xây dựng phương án bào chữa tối ưu trong khuôn khổ pháp luật và bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của bạn.
Không nhận việc ngoài phạm vi hành nghề luật sư
Chúng tôi cung cấp dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật Luật sư: bào chữa, bảo vệ quyền lợi, tư vấn, đại diện. Không có hoạt động nào ngoài khuôn khổ đó, và chúng tôi từ chối thẳng các đề nghị nằm ngoài phạm vi này.
Thù lao trong khuôn khổ mức trần luật định
Vụ án hình sự có mức trần thù lao do Chính phủ quy định theo khoản 1 Điều 56 Luật Luật sư. Chúng tôi thỏa thuận thù lao trong khuôn khổ đó và ghi rõ bằng văn bản trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.
Bảo mật là nghĩa vụ pháp lý, không phải lời hứa xã giao
Điều 25 Luật Luật sư cấm luật sư tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng biết được khi hành nghề, trừ khi được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Thông tin bạn cung cấp được bảo mật ngay cả khi bạn chưa sử dụng dịch vụ.
Càng sớm càng tốt — lý tưởng là ngay khi bạn hoặc người thân bị mời làm việc, bị tố giác, khởi tố, tạm giữ hoặc tạm giam. Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa được tham gia từ khi khởi tố bị can, hoặc từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở Cơ quan điều tra, hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Đó là thời điểm sớm nhất pháp luật cho phép.
Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: từ khi khởi tố bị can. Trường hợp bắt, tạm giữ người thì từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, hoặc từ khi có quyết định tạm giữ. Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra.
Nên cân nhắc tham khảo luật sư trước khi làm việc. Giai đoạn này cách bạn khai báo và việc hiểu rõ quyền của mình có ảnh hưởng đáng kể đến diễn biến về sau, kể cả khi chưa có quyết định khởi tố.
Không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải về trụ sở, hoặc từ khi ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú, theo khoản 1 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Có thể gia hạn tối đa hai lần, mỗi lần không quá 03 ngày, tức tổng cộng không quá 09 ngày.
Có. Theo khoản 2 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Phải trả tự do ngay. Khoản 3 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay.
Có. Theo khoản 4 Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam, và một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
Theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng; không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: tội ít nghiêm trọng gia hạn một lần không quá 01 tháng; tội nghiêm trọng một lần không quá 02 tháng; tội rất nghiêm trọng một lần không quá 03 tháng; tội đặc biệt nghiêm trọng hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng. Tổng thời hạn tạm giam để điều tra tối đa là 03 tháng, 05 tháng, 07 tháng và 12 tháng tương ứng.
Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, và chỉ khi vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, cần thời gian dài hơn cho việc điều tra, và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam. Căn cứ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đây là khoảng thời gian mà việc cung cấp tài liệu về nhân thân, nơi cư trú, khả năng bảo lĩnh có thể tạo căn cứ để đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn.
Theo khoản 3 Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Viện kiểm sát nhân dân khu vực gia hạn đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gia hạn lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và gia hạn lần thứ hai nếu hết thời hạn lần một mà chưa kết thúc điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an thụ lý thì thẩm quyền gia hạn thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Người bị buộc tội có quyền trình bày lời khai, trình bày ý kiến, và không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Đây là quyền được pháp luật ghi nhận tại các điều về quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hiểu đúng ranh giới giữa việc trình bày trung thực và việc không buộc phải tự buộc tội là nội dung đầu tiên nên trao đổi với luật sư.
Được biết lý do mình bị bắt, bị tạm giữ, bị khởi tố; được thông báo và giải thích về quyền, nghĩa vụ; trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyền này được quy định tại các Điều 58, 59, 60 và 61 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tương ứng với từng tư cách tố tụng.
Người bào chữa có quyền gặp người bị buộc tội đang bị tạm giữ, tạm giam theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Việc gặp được thực hiện sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký bào chữa và tuân theo quy định về cơ sở giam giữ.
Người bào chữa nộp hồ sơ đăng ký bào chữa cho cơ quan đang thụ lý vụ án. Sau khi kiểm tra và thấy không thuộc trường hợp từ chối đăng ký, cơ quan có thẩm quyền vào sổ đăng ký bào chữa và gửi thông báo người bào chữa cho người đăng ký. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng.
Trong nhiều trường hợp, người bào chữa có thể đề nghị thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Khả năng được chấp nhận phụ thuộc tính chất vụ việc và các điều kiện luật định. Thời điểm đề nghị có ý nghĩa quan trọng: theo khoản 2 Điều 173, điều kiện để gia hạn tạm giam là không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam — nên khoảng 10 ngày trước khi hết thời hạn là thời điểm cần chuẩn bị tài liệu.
Theo Thông tư 11/2025/TT-BCA, Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân tổ chức theo hai cấp gồm Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh. Không còn Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện như trước đây.
Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền, thay cho tòa án nhân dân cấp huyện trước đây. Tương ứng, Viện kiểm sát nhân dân khu vực thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp ở cấp này.
Có. Khoản 1 Điều 56 Luật Luật sư quy định đối với vụ án hình sự mà luật sư tham gia tố tụng thì mức thù lao không được vượt quá mức trần do Chính phủ quy định. Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP quy định mức cao nhất cho 01 giờ làm việc của luật sư không được vượt quá 0,3 lần mức lương cơ sở. Với mức lương cơ sở 2.530.000 đồng áp dụng từ 01/7/2026, mức trần tương đương 759.000 đồng cho một giờ làm việc.
Cả hai đều được. Điều 18 Nghị định 123/2013/NĐ-CP quy định mức thù lao do khách hàng và tổ chức hành nghề thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý, dựa trên các căn cứ tại khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư, và được tính theo giờ hoặc tính trọn gói theo vụ việc — nhưng vẫn phải trong khuôn khổ mức trần theo giờ nêu trên.
Theo khoản 1 Điều 55 Luật Luật sư: nội dung và tính chất của dịch vụ pháp lý; thời gian và công sức của luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; và kinh nghiệm, uy tín của luật sư.
Theo Điều 19 Nghị định 123/2013/NĐ-CP, đối với những vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu luật sư thì mức thù lao được trả cho 01 ngày làm việc của luật sư là 0,4 lần mức lương cơ sở, tương đương 1.012.000 đồng theo mức lương cơ sở hiện hành.
Theo Nghị định 123/2013/NĐ-CP, ngoài khoản tiền thù lao, trong quá trình chuẩn bị và tham gia bào chữa tại phiên tòa và tại các cơ quan tiến hành tố tụng, luật sư được thanh toán chi phí tàu xe, lưu trú theo quy định hiện hành về chế độ công tác phí cho cán bộ, công chức nhà nước đi công tác trong nước.
Theo Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15, chi phí tố tụng gồm chi phí giám định, định giá tài sản, chi phí cho người làm chứng và người chứng kiến, phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm, chi phí thù lao cho bào chữa viên nhân dân, chi phí cho người phiên dịch và người dịch thuật. Thù lao người làm chứng, người chứng kiến là 200.000 đồng một người một ngày; thù lao cho bào chữa viên nhân dân là 700.000 đồng một người một ngày; phụ cấp xét xử đối với Hội thẩm là 900.000 đồng một người một ngày.
Theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm khi bị kết tội. Phần dân sự trong vụ án hình sự, tức phần bồi thường thiệt hại, chịu án phí dân sự tính theo giá trị tranh chấp, từ 5% với phần đến 400 triệu đồng giảm dần đến 0,1% với phần vượt 4 tỷ đồng. Bị hại yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự không phải nộp tạm ứng án phí.
Không. Không ai có thể đảm bảo kết quả xét xử, và một luật sư cam kết điều đó là điều đáng ngờ. Điều chúng tôi cam kết là xây dựng phương án bào chữa tối ưu trong khuôn khổ pháp luật và bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của bạn.
Nhiều vụ án hình sự đan xen tranh chấp dân sự, đất đai, tài chính, hoặc liên quan trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp. Chúng tôi xử lý vụ việc trong toàn bộ bối cảnh của nó thay vì tách rời từng phần, và vẫn do cùng một luật sư phụ trách.
Không. Chúng tôi cung cấp văn bản đánh giá sơ bộ vụ việc miễn phí, trong đó nêu rõ tình huống pháp lý, các mốc thời hạn đang chạy, hồ sơ còn thiếu và hướng xử lý, để bạn quyết định trước khi sử dụng dịch vụ.
Có. Luật Quốc Ấn có trụ sở tại Hà Nội nhưng nhận vụ việc hình sự trên toàn quốc. Với vụ việc ở xa, chúng tôi phối hợp làm việc từ xa và có mặt trực tiếp tại các giai đoạn tố tụng quan trọng.
Có. Điều 25 Luật Luật sư quy định luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác. Đây là nghĩa vụ pháp lý, áp dụng ngay cả khi bạn chưa sử dụng dịch vụ và không mất đi sau khi vụ việc kết thúc.
Đừng đối mặt với vụ án hình sự một mình
Liên hệ Luật Quốc Ấn để nhận đánh giá sơ bộ bằng văn bản về vụ việc của bạn — tình huống pháp lý, các mốc thời hạn đang chạy và hướng xử lý. Miễn phí, trước khi quyết định sử dụng dịch vụ.