Không phải vấn đề gia đình nào cũng kết thúc bằng ly hôn
Pháp luật cho phép làm nhiều việc trước khi đến bước đó: yêu cầu cấm tiếp xúc để bảo đảm an toàn, buộc cấp dưỡng, hạn chế quyền của cha mẹ có hành vi gây hại cho con. Chúng tôi trình bày rõ các phương án cùng hệ quả của từng phương án, để bạn chọn — không phải để bạn quyết định vội.
Phân tích phương án bằng văn bản trước khi bạn quyết định
Bảo mật tuyệt đối, kể cả khi chưa sử dụng dịch vụ
TRẢ LỜI NHANH
Luật sư hôn nhân và gia đình hỗ trợ ly hôn thuận tình và đơn phương, tranh chấp quyền nuôi con, chia tài sản chung, cấp dưỡng, và các biện pháp bảo vệ khi có bạo lực gia đình. Người đang bị bạo lực có thể đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định cấm tiếp xúc mà không cần khởi kiện trước; quyết định được xem xét trong 12 giờ và có hiệu lực ngay khi ký, mỗi lần không quá 03 ngày. Tòa án cấm tiếp xúc được tới 04 tháng nhưng chỉ khi đang thụ lý vụ án dân sự giữa hai bên. Về quyền nuôi con, Tòa án đánh giá theo 07 tiêu chí quy định tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP và lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng cho mỗi tháng, mỗi người con. Thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa chỉ chịu 50% án phí, mỗi bên 25%.
Cập nhật tháng 7/2026
BẠN ĐANG Ở TÌNH HUỐNG NÀO?
Mỗi tình huống có phương án và thứ tự ưu tiên khác nhau
Những gì pháp luật cho phép làm trước khi nghĩ đến ly hôn
Ly hôn không phải công cụ bảo vệ, và nó cũng không nhanh. Khi có hành vi bạo lực, thứ cần trước tiên là biện pháp có hiệu lực ngay. Ba nhóm biện pháp dưới đây tồn tại độc lập với vụ ly hôn và có thể áp dụng song song hoặc thay thế.
1. Cấm tiếp xúc — hai kênh, khác nhau ở thời điểm dùng được
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
Tòa án nhân dân
Điều kiện dùng
Không cần khởi kiện trước
Chỉ khi đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa hai bên
Thời hạn mỗi lần
Không quá 03 ngày
Không quá 04 tháng
Thời gian xem xét
Trong 12 giờ kể từ khi nhận đề nghị
Theo thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Hiệu lực
Ngay sau khi ký ban hành
Ngay sau khi ký ban hành
Tòa án tự mình ra quyết định
—
Được, khi cần bảo vệ tính mạng người bị bạo lực
Căn cứ
Điều 25 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022
Điều 26 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022
Điểm nhiều người không biết nên bỏ lỡ
Biện pháp cấm tiếp xúc của Tòa án không dùng được khi chưa khởi kiện. Trước thời điểm Tòa án thụ lý, kênh duy nhất là đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Người bị bạo lực được quyền lựa chọn chỗ ở trong thời gian cấm tiếp xúc, và nếu người có hành vi bạo lực vi phạm quyết định thì bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính.
2. Xử phạt hành chính hành vi bạo lực gia đình
Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định mức phạt cụ thể cho từng nhóm hành vi tại các Điều 37 đến 53. Đây là con đường độc lập với vụ án dân sự và với việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hành vi
Mức phạt
Căn cứ
Đe dọa xâm hại đến sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình
2.000.000 – 5.000.000 đồng
Khoản 1 Điều 37
Đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại sức khỏe, tính mạng, chưa đến mức truy cứu hình sự
5.000.000 – 10.000.000 đồng
Khoản 2 Điều 37
Hành hạ, ngược đãi như bắt nhịn ăn, nhịn uống, chịu rét, hạn chế vệ sinh cá nhân
10.000.000 – 20.000.000 đồng
Điểm a khoản 3 Điều 37
Dùng công cụ, phương tiện gây thương tích, chưa đến mức truy cứu hình sự
10.000.000 – 20.000.000 đồng
Điểm b khoản 3 Điều 37
Không đưa người bị bạo lực đi cấp cứu khi cần, hoặc không chăm sóc trong thời gian điều trị
10.000.000 – 20.000.000 đồng
Điểm c khoản 3 Điều 37
Cố tình đến gần trong phạm vi 100 m khi đang bị cấm tiếp xúc
500.000 – 1.000.000 đồng
Khoản 1 Điều 53
Dùng điện thoại, thư điện tử hoặc phương tiện khác để bạo lực với người không được tiếp xúc
3.000.000 – 5.000.000 đồng
Khoản 2 Điều 53
Buộc xin lỗi công khaiKhi người bị bạo lực có yêu cầu, tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng — điểm a khoản 5 Điều 37
Buộc chi trả chi phí khám chữa bệnhToàn bộ chi phí đối với hành vi đánh đập và hành vi dùng công cụ gây thương tích — điểm b khoản 5 Điều 37
Tịch thu tang vậtÁp dụng với công cụ, phương tiện gây thương tích, trừ trường hợp không phải tài sản riêng của người vi phạm — khoản 4 Điều 37
3. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức ra quyết định hạn chế quyền của cha hoặc mẹ, theo Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình và hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Không cần phải ly hôn mới yêu cầu được.
Hành vi
Hình thức hạn chế
Bị kết án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý
Không được trông nom, chăm sóc, giáo dục con; không được đại diện theo pháp luật cho con
Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
Không được trông nom, chăm sóc, giáo dục con; không được đại diện theo pháp luật cho con
Phá tán tài sản của con
Không được quản lý tài sản của con; không được đại diện theo pháp luật cho con
Có lối sống đồi trụy
Không được trông nom, chăm sóc, giáo dục con; không được đại diện theo pháp luật cho con
Xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
Không được trông nom, chăm sóc, giáo dục con; không được đại diện theo pháp luật cho con
Tòa án quyết định rút ngắn thời hạn hạn chế quyền nếu cha, mẹ đã thực hiện được một phần hai thời hạn và trong thời gian đó không tái diễn hành vi — khoản 7 Điều 8 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP.
Thông tin thêm
Trong tình huống nguy hiểm đang diễn ra, các số liên hệ khẩn cấp gồm Công an 113 và Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111. Hỗ trợ pháp lý có thể tiến hành ngay sau khi bảo đảm an toàn.
Cập nhật tháng 7/2026
QUYỀN NUÔI CON
Bảy tiêu chí Tòa án dùng để quyết định
Trước đây cụm “quyền lợi về mọi mặt của con” được hiểu rất khác nhau giữa các tòa. Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP đã liệt kê cụ thể các tiêu chí phải đánh giá khách quan, toàn diện — nghĩa là việc chuẩn bị chứng cứ giờ có đích rõ ràng để nhắm tới.
Điều kiện, khả năngKhả năng trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột
Quyền của conĐược sống chung với người trực tiếp nuôi, đồng thời được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi
Sự gắn bóMức độ gắn bó, thân thiết của con với cha, với mẹ
Sự quan tâmSự quan tâm của cha, mẹ đối với con trên thực tế
Tính ổn địnhBảo đảm ổn định, hạn chế xáo trộn môi trường sống và giáo dục của con
Anh chị emNguyện vọng của con được ở cùng anh, chị, em để bảo đảm ổn định tâm lý, tình cảm
Nguyện vọng của conNguyện vọng được sống chung với cha hoặc với mẹ
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP.
Lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi phải theo cách thức bắt buộc
Việc lấy ý kiến phải thân thiện, phù hợp với tâm lý, độ tuổi, mức độ trưởng thành để con bày tỏ đúng và đầy đủ ý kiến; không lấy ý kiến trước mặt cha, mẹ để tránh gây áp lực tâm lý; không ép buộc, không gây áp lực, căng thẳng cho con. Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP và khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Con dưới 36 tháng tuổi — ba trường hợp mẹ bị coi là không đủ điều kiện
Theo khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP: mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh nặng khác mà không thể tự chăm sóc bản thân hoặc không thể trực tiếp nuôi con; có thu nhập mỗi tháng thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi mình cư trú và không có tài sản nào khác; không có điều kiện về thời gian tối thiểu để trực tiếp nuôi con. Và khoản 4 quy định rõ: nếu điều kiện của người cha không tốt hơn điều kiện của người mẹ thì Tòa án vẫn quyết định giao con cho mẹ trực tiếp nuôi.
CẤP DƯỠNG
Từ năm 2024, mức cấp dưỡng đã có sàn cụ thể
Tiền cấp dưỡng là toàn bộ chi phí nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Khi không thỏa thuận được, Tòa án quyết định căn cứ thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của con — nhưng mức Tòa án quyết định không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi người cấp dưỡng cư trú, cho mỗi tháng, mỗi người con.
Vùng
Lương tối thiểu tháng
Mức cấp dưỡng tối thiểu do Tòa án quyết định
Vùng I
5.310.000 đồng
2.655.000 đồng/tháng/con
Vùng II
4.730.000 đồng
2.365.000 đồng/tháng/con
Vùng III
4.140.000 đồng
2.070.000 đồng/tháng/con
Vùng IV
3.700.000 đồng
1.850.000 đồng/tháng/con
Mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP, áp dụng từ 01/01/2026. Sàn cấp dưỡng theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Sàn này áp dụng cho mức do Tòa án quyết định khi các bên không thỏa thuận được.
Cấp dưỡng tính từ khi không sống chung, không phải từ ngày bản án
Theo khoản 4 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con, hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nghĩa là phần cấp dưỡng của khoảng thời gian đã trôi qua vẫn có thể được yêu cầu.
Không yêu cầu cấp dưỡng thì Tòa án xử lý thế nào
Nếu người trực tiếp nuôi con không yêu cầu bên kia cấp dưỡng, Tòa án giải thích rằng yêu cầu cấp dưỡng là nhằm bảo vệ quyền lợi của con. Nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc không yêu cầu là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia cấp dưỡng — khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP.
LY HÔN
Điều kiện, thẩm quyền và những giới hạn ít được nhắc
Căn cứ để Tòa án cho ly hôn theo yêu cầu của một bên
Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP làm rõ ba nhóm căn cứ tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Thứ nhất, vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình theo khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Thứ hai, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người kia — ví dụ được nêu là phá tán tài sản gia đình. Thứ ba, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, gồm: không có tình nghĩa vợ chồng như không thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, sống ly thân, bỏ mặc nhau; có quan hệ ngoại tình; xúc phạm nhau làm tổn hại danh dự, nhân phẩm, uy tín, tổn thất tinh thần hoặc gây thương tích; không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, không tạo điều kiện cho nhau phát triển.
Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong ba trường hợp
Khi vợ đang có thai, sinh con, hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP làm rõ hai điểm thường bị hiểu sai: không phân biệt vợ có thai, sinh con với ai, và không phân biệt con đẻ hay con nuôi. “Sinh con” còn bao gồm trường hợp vợ đã sinh nhưng không nuôi con đến khi con dưới 12 tháng tuổi, con chết khi dưới 12 tháng tuổi, hoặc có thai từ 22 tuần trở lên mà phải đình chỉ thai nghén — thời hạn 12 tháng tính từ ngày sinh con hoặc ngày đình chỉ thai nghén.
Vụ ly hôn có tranh chấp nhà đất nộp ở đâu
Đây là điểm khác biệt so với vụ án dân sự thuần túy về bất động sản. Theo khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về bất động sản mà nơi cư trú, làm việc của đương sự khác với nơi có bất động sản thì thẩm quyền xác định theo nơi cư trú, làm việc của đương sự, loại trừ nguyên tắc thẩm quyền riêng biệt theo nơi có bất động sản.
Bị đơn ở nước ngoài không rõ địa chỉ vẫn giải quyết được
Theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, nếu qua người thân thích của bị đơn có căn cứ xác định họ có liên hệ với người thân trong nước nhưng người thân không cung cấp địa chỉ và không thực hiện yêu cầu thông báo của Tòa án thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Sau khi Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà vẫn không thực hiện, Tòa án tiếp tục giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung, sau đó niêm yết công khai bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.
PHẠM VI DỊCH VỤ
Từ biện pháp bảo vệ khẩn cấp đến thi hành án
Đề nghị áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc, biện pháp khẩn cấp tạm thời
Phân tích phương án và hệ quả bằng văn bản trước khi bạn quyết định
Ly hôn thuận tình và ly hôn theo yêu cầu của một bên
Tranh chấp quyền nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
Yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng, buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Chia tài sản chung vợ chồng, xác định tài sản riêng, công sức đóng góp
Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi trong nước và có yếu tố nước ngoài
Vụ việc của bạn thuộc mảng khác?
Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất không phát sinh từ quan hệ hôn nhân được xử lý tại trang luật sư đất đai; chia di sản sau khi một bên chết tại trang luật sư thừa kế. Vụ việc đan xen nhiều mảng vẫn do cùng một luật sư phụ trách.
Chưa chắc phương án nào phù hợp với hoàn cảnh của mình? Gửi thông tin hoặc gọi trực tiếp để nhận phân tích bằng văn bản — miễn phí, trước khi bạn quyết định bất cứ điều gì.
Án phí trong vụ ly hôn có cấu trúc riêng, khác hẳn vụ dân sự thông thường, và mức phải chịu phụ thuộc trực tiếp vào thời điểm các bên đạt được thỏa thuận. Đây là lý do thực tế để cố gắng thỏa thuận trước khi mở phiên tòa, không phải chỉ vì lý do tình cảm.
Án phí đối với yêu cầu ly hôn
Tình huống
Tổng án phí
Mỗi bên chịu
Thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm
50%
25%
Thuận tình ly hôn tại phiên tòa sơ thẩm
100%
50%
Tự nguyện ly hôn trước phiên tòa nhưng tranh chấp con chung hoặc tài sản, Tòa án phải xét xử
50% phần yêu cầu ly hôn
25%
Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Mức án phí đối với yêu cầu ly hôn là án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, tức 300.000 đồng — nên thuận tình trước phiên tòa mỗi bên chịu 75.000 đồng. Nguyên đơn phải chịu án phí trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu, theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Án phí đối với phần chia tài sản chung
Tự thỏa thuận trước khi Tòa án hòa giảiKhông phải chịu án phí đối với việc phân chia tài sản chung — điểm d khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
Thỏa thuận sau hòa giải nhưng trước khi mở phiên tòaChịu 50% mức án phí tương ứng giá trị phần tài sản được chia — điểm đ khoản 5 Điều 27
Không thỏa thuận được, Tòa án chiaChịu án phí có giá ngạch tương ứng giá trị phần tài sản mà mỗi bên được chia — điểm b khoản 5 Điều 27
Thỏa thuận được một phầnNếu còn phần tài sản hoặc nghĩa vụ không thỏa thuận được thì các bên vẫn chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung — điểm e khoản 5 Điều 27
Mức án phí có giá ngạch theo bậc
Giá trị phần tài sản được chia
Mức án phí
Từ 6.000.000 đồng trở xuống
300.000 đồng
Trên 6.000.000 đến 400.000.000 đồng
5% giá trị phần được chia
Trên 400.000.000 đến 800.000.000 đồng
20.000.000 đồng + 4% phần vượt 400.000.000
Trên 800.000.000 đến 2.000.000.000 đồng
36.000.000 đồng + 3% phần vượt 800.000.000
Trên 2.000.000.000 đến 4.000.000.000 đồng
72.000.000 đồng + 2% phần vượt 2.000.000.000
Trên 4.000.000.000 đồng
112.000.000 đồng + 0,1% phần vượt 4.000.000.000
Chi phí tố tụng
Khoản riêng, không nằm trong án phí, điều chỉnh bởi Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15. Với vụ hôn nhân và gia đình, khoản phát sinh thường xuyên nhất là chi phí định giá tài sản khi có tranh chấp nhà đất, và chi phí giám định trong vụ việc xác định cha, mẹ, con.
Thù lao người tham gia định giá, thẩm định tại chỗ200.000 đồng/người/ngày — Danh mục kèm theo Pháp lệnh
Dịch vụ thuê ngoàiĐo đạc, giám định chuyên môn tính theo thực tế phát sinh trên cơ sở hợp đồng và hóa đơn — Điều 15, điểm b khoản 2 Điều 4
Thời hạn nộp tạm ứng07 ngày kể từ ngày nhận thông báo của Tòa án — khoản 2 Điều 17
Được miễn hoàn toànTrẻ em; hộ nghèo, hộ cận nghèo; người cao tuổi và người khuyết tật hưởng bảo trợ xã hội; người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số ở thôn, xã đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ; người nhiễm chất độc da cam — Điều 7
Được giảm tối đa 50%Người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không đủ tài sản để nộp, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú — Điều 8 và Điều 12
Thù lao luật sư
Không có mức cố định, và bất kỳ ai báo một con số trước khi nghe rõ hoàn cảnh đều là báo bừa. Thù lao được xác định theo việc vụ việc là thuận tình hay tranh chấp, có tranh chấp quyền nuôi con hay không, số lượng và loại tài sản phải chia, có cần áp dụng biện pháp bảo vệ khẩn cấp hay không, và số cấp xét xử tham gia.
Điều chúng tôi cam kết là con số được chốt bằng văn bản trong hợp đồng dịch vụ pháp lý trước khi bắt đầu, kèm bảng ước tính riêng cho án phí và chi phí tố tụng. Không phát sinh ngoài thỏa thuận.
Cập nhật tháng 7/2026 — theo Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 và Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15
QUY TRÌNH LÀM VIỆC
Bốn bước rõ ràng
1
Tiếp nhận
Mô tả vụ việc qua biểu mẫu hoặc hotline
2
Đánh giá sơ bộ
Nhận văn bản đánh giá sơ bộ vụ việc miễn phí
3
Đề xuất dịch vụ
Báo phương án và phí dịch vụ minh bạch
4
Triển khai
Ký hợp đồng, luật sư phụ trách theo suốt vụ việc
VÌ SAO CHỌN LUẬT QUỐC ẤN
Cách chúng tôi làm việc
An toàn trước, thủ tục sau
Khi có hành vi bạo lực, việc đầu tiên không phải soạn đơn ly hôn mà là xem xét biện pháp có hiệu lực ngay. Nhiều trường hợp đề nghị cấm tiếp xúc tại Ủy ban nhân dân cấp xã có kết quả trong vòng mười hai giờ, trong khi một vụ ly hôn mất nhiều tháng.
Trình bày đủ phương án, không đẩy về một hướng
Ly hôn là một phương án, không phải phương án duy nhất, và cũng không phải lúc nào cũng là phương án tốt nhất. Chúng tôi phân tích từng hướng cùng hệ quả pháp lý, chi phí và thời gian của nó, rồi để bạn chọn.
Ưu tiên thỏa thuận vì lý do thực tế, không phải vì lý do tình cảm
Thỏa thuận trước khi mở phiên tòa giảm một nửa án phí ly hôn, và thỏa thuận chia tài sản trước khi Tòa án hòa giải thì không phải chịu án phí phần tài sản. Chúng tôi nói rõ những con số này ngay từ đầu để bạn cân nhắc có cơ sở.
Luật sư phụ trách trực tiếp từ đầu đến cuối
Người tiếp nhận vụ việc của bạn ở buổi đầu cũng chính là người ngồi cùng bạn tại phiên tòa. Vụ việc không đổi tay giữa chừng, không chuyển xuống trợ lý sau khi ký hợp đồng.
Ai phụ trách vụ việc của bạn
Vụ việc do luật sư điều hành trực tiếp phụ trách và theo suốt, với sự tham gia của luật sư cộng sự khi tính chất vụ việc cần. Người tư vấn cho bạn ở buổi đầu cũng là người ngồi cùng bạn tại phiên tòa.
Chúng tôi cam kết điều làm được, và nói rõ điều không
Không cam kết kết quả xét xử
Không ai bảo đảm được kết quả một vụ án, kể cả về quyền nuôi con. Điều chúng tôi cam kết là đánh giá trung thực khả năng của bạn theo đúng các tiêu chí Tòa án sử dụng, và chuẩn bị hồ sơ nhắm đúng vào những tiêu chí đó.
Chỉ đại diện cho một bên trong cùng một vụ việc
Chúng tôi không nhận đại diện cho cả hai vợ chồng trong cùng một vụ việc, kể cả khi hai bên đang thuận tình và cùng đề nghị. Nếu hai bên đã thỏa thuận được, chúng tôi có thể tư vấn thủ tục cho một bên và nói rõ bên còn lại nên có người tư vấn độc lập.
Không dùng con làm công cụ trong tranh chấp
Chúng tôi không tư vấn các cách thức gây cản trở việc thăm nom, không hướng dẫn tác động đến ý kiến của con trước khi Tòa án lấy ý kiến. Ngoài lý do đạo đức nghề nghiệp, đây còn là những việc thường phản tác dụng khi Tòa án đánh giá theo tiêu chí sự gắn bó và quyền được duy trì quan hệ với cả cha lẫn mẹ.
Bảo mật là nghĩa vụ, không phải lời hứa xã giao
Giữ bí mật thông tin thân chủ là nghĩa vụ đạo đức và pháp lý của luật sư. Thông tin bạn cung cấp được bảo mật ngay cả khi bạn chưa sử dụng dịch vụ.
Có thể đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi ra quyết định cấm tiếp xúc mà không cần khởi kiện trước. Theo Điều 25 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, đề nghị được xem xét trong thời hạn 12 giờ, quyết định có hiệu lực ngay sau khi ký ban hành, mỗi lần không quá 03 ngày. Người bị bạo lực được quyền lựa chọn chỗ ở trong thời gian cấm tiếp xúc.
Tòa án cấm được tới 04 tháng, dài hơn nhiều so với 03 ngày mỗi lần của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Nhưng theo Điều 26 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, Tòa án chỉ ra quyết định khi đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa người bị bạo lực và người có hành vi bạo lực. Nghĩa là khi chưa khởi kiện thì không dùng được kênh này.
Có. Theo khoản 2 Điều 26 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, Tòa án đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa hai bên tự mình ra quyết định cấm tiếp xúc trong thời gian không quá 04 tháng khi cần bảo vệ tính mạng của người bị bạo lực gia đình.
Bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính theo khoản 6 Điều 25 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022. Về xử phạt, theo Điều 53 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, cố tình đến gần người bị bạo lực trong phạm vi 100 m mà không có tường ngăn hoặc vách ngăn bảo đảm an toàn bị phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng; sử dụng điện thoại, thư điện tử hoặc phương tiện khác để thực hiện hành vi bạo lực với người không được tiếp xúc bị phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.
Theo khoản 2 Điều 37 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, hành vi đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự bị phạt từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng. Nếu sử dụng công cụ, phương tiện gây thương tích thì mức phạt là 10.000.000 đến 20.000.000 đồng theo điểm b khoản 3. Ngoài ra còn bị buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực có yêu cầu và buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
Có. Điều 38 Nghị định 282/2025/NĐ-CP xử phạt hành vi bỏ mặc, không quan tâm, không nuôi dưỡng, không chăm sóc thành viên gia đình là phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người già yếu, người cao tuổi, người không có khả năng tự chăm sóc, và hành vi không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em. Nghị định cũng xử phạt riêng hành vi bạo lực về kinh tế tại Điều 44 và hành vi gây áp lực thường xuyên về tâm lý tại Điều 40.
Theo Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình và Điều 8 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, khi bị kết án về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy; hoặc xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức ra quyết định, và không cần phải có vụ ly hôn.
Theo khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, Tòa án đánh giá khách quan, toàn diện bảy tiêu chí: điều kiện và khả năng trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, kể cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột; quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và duy trì quan hệ với người còn lại; sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ; sự quan tâm của cha, mẹ đối với con; bảo đảm ổn định, hạn chế xáo trộn môi trường sống và giáo dục; nguyện vọng của con được ở cùng anh, chị, em; nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ.
Từ đủ 07 tuổi trở lên. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, việc lấy ý kiến phải thân thiện, phù hợp với tâm lý, độ tuổi và mức độ trưởng thành của con; không lấy ý kiến trước mặt cha, mẹ để tránh gây áp lực tâm lý; không ép buộc, không gây áp lực, căng thẳng cho con.
Về nguyên tắc là giao cho mẹ, trừ khi người mẹ không đủ điều kiện. Theo khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, người mẹ bị coi là không đủ điều kiện trong ba trường hợp: mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh nặng khác mà không thể tự chăm sóc bản thân hoặc không thể trực tiếp nuôi con; có thu nhập mỗi tháng thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi cư trú và không có tài sản nào khác; không có điều kiện về thời gian tối thiểu để trực tiếp nuôi con. Khoản 4 quy định thêm rằng nếu điều kiện của người cha không tốt hơn thì Tòa án vẫn giao con cho mẹ.
Có. Đây là một loại việc riêng, độc lập với bản án ly hôn đã có hiệu lực, và được xem xét dựa trên các tiêu chí tại Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP cùng với thay đổi thực tế về điều kiện của mỗi bên. Trường hợp cha và mẹ đều là người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà con chung đang sinh sống tại Việt Nam thì vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam, theo khoản 2 Điều 9 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP.
Tiền cấp dưỡng do các bên thỏa thuận. Khi không thỏa thuận được, Tòa án quyết định căn cứ thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của con, nhưng mức do Tòa án quyết định không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng nơi người cấp dưỡng cư trú, cho mỗi tháng đối với mỗi người con, theo khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Theo mức lương tối thiểu vùng tại Nghị định 293/2025/NĐ-CP áp dụng từ 01/01/2026, sàn này là 2.655.000 đồng ở vùng I, 2.365.000 đồng ở vùng II, 2.070.000 đồng ở vùng III và 1.850.000 đồng ở vùng IV.
Từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con, hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Căn cứ khoản 4 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Nghĩa là phần cấp dưỡng của khoảng thời gian đã trôi qua trước khi có bản án vẫn có thể được yêu cầu.
Được, nếu là tự nguyện và có khả năng nuôi dưỡng. Theo khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, Tòa án giải thích rằng việc yêu cầu cấp dưỡng là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc không yêu cầu là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng.
Thuận tình là trường hợp vợ chồng cùng ký vào đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản; hoặc một bên khởi kiện ly hôn còn bên kia đồng ý ly hôn và đồng ý về nuôi con, chia tài sản. Theo khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, thỏa thuận về chia tài sản bao gồm cả trường hợp vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản. Ly hôn theo yêu cầu một bên phải có căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Theo Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP có ba nhóm căn cứ: vợ hoặc chồng có hành vi bạo lực gia đình; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người kia; hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được — bao gồm không có tình nghĩa vợ chồng, sống ly thân, bỏ mặc nhau, có quan hệ ngoại tình, xúc phạm nhau, hoặc không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Không. Và theo khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, quy định này áp dụng mà không phân biệt vợ có thai với ai. “Đang có thai” là khoảng thời gian từ khi mang thai đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén, được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định.
Không, và không phân biệt con đẻ hay con nuôi, theo khoản 5 Điều 2 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Ngoài ra, trường hợp vợ đã sinh con nhưng không nuôi con đến khi con dưới 12 tháng tuổi, hoặc con chết khi dưới 12 tháng tuổi, hoặc vợ có thai từ 22 tuần trở lên mà phải đình chỉ thai nghén, thì chồng cũng không có quyền yêu cầu ly hôn trong 12 tháng tính từ ngày sinh con hoặc ngày đình chỉ thai nghén.
Nơi cư trú, làm việc của đương sự. Theo khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về bất động sản mà nơi cư trú, làm việc của bị đơn, nguyên đơn và nơi có bất động sản khác nhau thì thẩm quyền được xác định theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là điểm khác biệt so với vụ án dân sự thuần túy về bất động sản.
Được. Theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, nếu qua người thân thích của bị đơn có căn cứ xác định họ có liên hệ với người thân trong nước nhưng người thân không cung cấp địa chỉ và không thực hiện yêu cầu thông báo của Tòa án thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Sau khi Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà vẫn không thực hiện, Tòa án tiếp tục giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung, sau đó niêm yết công khai bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.
Án phí đối với yêu cầu ly hôn là án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, mức 300.000 đồng. Nguyên đơn phải chịu án phí không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu, theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Nếu có tranh chấp chia tài sản thì phần tài sản chịu án phí có giá ngạch riêng.
Có, và mức giảm phụ thuộc vào thời điểm. Theo khoản 2 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì các bên chịu 50% mức án phí, mỗi bên 25% — tức 75.000 đồng mỗi người. Thuận tình tại phiên tòa sơ thẩm thì phải chịu 100%, mỗi bên 50%. Chênh lệch gấp đôi chỉ vì thỏa thuận sớm hay muộn.
Không, nếu thỏa thuận trước khi Tòa án tiến hành hòa giải. Theo điểm d khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, trường hợp đương sự tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án, quyết định trước khi Tòa án tiến hành hòa giải thì không phải chịu án phí đối với việc phân chia tài sản chung. Nếu thỏa thuận sau khi đã hòa giải nhưng trước khi mở phiên tòa thì chịu 50%.
Theo điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, các đương sự có tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như vụ án dân sự có giá ngạch, tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia. Mức theo bậc, từ 5% với phần đến 400 triệu đồng, giảm dần đến 0,1% với phần vượt 4 tỷ đồng.
Vẫn chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung. Theo điểm e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, nếu các đương sự thống nhất được về một số tài sản và nghĩa vụ chung nhưng còn một số không thỏa thuận được thì các đương sự vẫn phải chịu án phí đối với việc chia toàn bộ tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Chi phí tố tụng là khoản riêng, điều chỉnh bởi Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15. Với vụ hôn nhân và gia đình, khoản phát sinh thường xuyên nhất là chi phí định giá tài sản khi có tranh chấp nhà đất và chi phí giám định trong vụ việc xác định cha, mẹ, con. Thù lao người tham gia định giá và thẩm định tại chỗ là 200.000 đồng/người/ngày; chi phí thuê đơn vị chuyên môn tính theo thực tế phát sinh trên cơ sở hợp đồng và hóa đơn.
Theo Điều 7 Pháp lệnh 05/2024/UBTVQH15, được miễn hoàn toàn gồm trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo; người cao tuổi và người khuyết tật được hưởng chính sách bảo trợ xã hội; người có công với cách mạng; người dân tộc thiểu số cư trú ở thôn, xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ; người nhiễm chất độc da cam. Người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không đủ tài sản để nộp, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, được giảm không quá 50%.
Theo khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010, người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; và có tư cách đạo đức tốt. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng, hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng điều kiện về chênh lệch 20 tuổi và điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở.
Theo khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010: người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; người đang chấp hành hình phạt tù; và người chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình, dụ dỗ hoặc ép buộc người chưa thành niên vi phạm pháp luật, mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.
Không. Thù lao được xác định theo việc vụ việc là thuận tình hay tranh chấp, có tranh chấp quyền nuôi con hay không, số lượng và loại tài sản phải chia, có cần áp dụng biện pháp bảo vệ khẩn cấp hay không, và số cấp xét xử tham gia. Chúng tôi chốt thù lao bằng văn bản trong hợp đồng dịch vụ pháp lý trước khi bắt đầu, kèm bảng ước tính riêng cho án phí và chi phí tố tụng.
Không. Chúng tôi không nhận đại diện cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc, kể cả khi hai bên đang thuận tình và cùng đề nghị. Nếu hai bên đã thỏa thuận được, chúng tôi tư vấn thủ tục cho một bên và nói rõ bên còn lại nên có người tư vấn độc lập.
Không. Chúng tôi cung cấp văn bản đánh giá sơ bộ vụ việc miễn phí, trong đó nêu rõ các phương án có thể áp dụng cùng hệ quả pháp lý, chi phí và thời gian của từng phương án, để bạn quyết định trước khi sử dụng dịch vụ.
Có. Luật Quốc Ấn có trụ sở tại Hà Nội nhưng nhận vụ việc hôn nhân và gia đình trên toàn quốc. Với vụ việc ở xa, chúng tôi phối hợp làm việc từ xa và có mặt trực tiếp tại các giai đoạn tố tụng quan trọng.
Có. Bảo mật thông tin thân chủ là nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và nghĩa vụ pháp lý của luật sư, được áp dụng ngay cả khi bạn chưa sử dụng dịch vụ.
Biết đủ phương án trước khi quyết định bất cứ điều gì
Gửi thông tin vụ việc để nhận phân tích bằng văn bản — các phương án có thể áp dụng, hệ quả pháp lý, chi phí và thời gian của từng phương án. Miễn phí, và bảo mật kể cả khi bạn không sử dụng dịch vụ.