Quyền của ông bà đối với cháu khi cha mẹ ly hôn hoặc qua đời
Ông bà không có tên trong bản án ly hôn của con mình, nhưng thường là những người chịu hệ quả trực tiếp nhất. Có những gia đình mà từ hôm có bản án, ông bà nội không được gặp cháu nữa vì con dâu đã đưa cháu về bên ngoại. Có những gia đình mà ông bà ngoại mới là người nuôi cháu từ nhỏ, trong khi người được Tòa giao nuôi con lại đi làm xa. Luật Hôn nhân và gia đình không dành cho ông bà quyền “giành” cháu với cha mẹ, nhưng cũng không để ông bà đứng ngoài: có quyền thăm nom, có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp khi cháu bị nuôi dạy không tốt, và có nghĩa vụ nuôi cháu khi không còn ai khác.
Tóm tắt
- Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu; khi cháu chưa thành niên không có người nuôi dưỡng theo Điều 105 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, ông bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng (khoản 1 Điều 104 Luật HNGĐ).
- Ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông bà và cháu là hành vi bạo lực gia đình (điểm g khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022), bị phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng (Điều 42 Nghị định 282/2025/NĐ-CP).
- Ông bà là người thân thích, có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi cháu khi người đang nuôi không còn đủ điều kiện (điểm a khoản 5 Điều 84 Luật HNGĐ), yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ (điểm a khoản 2 Điều 86 Luật HNGĐ) và yêu cầu buộc cấp dưỡng cho cháu (điểm a khoản 2 Điều 119 Luật HNGĐ).
- Khi cháu không còn cha mẹ và không có anh, chị ruột đủ điều kiện, ông bà là người giám hộ đương nhiên (khoản 2 Điều 52 Bộ luật Dân sự 2015).
- Ông bà không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong một số trường hợp (khoản 1 Điều 113 Luật HNGĐ). Ông bà không được nhận cháu làm con nuôi (khoản 6 Điều 13 Luật Nuôi con nuôi 2010).
Quyền của ông bà đối với cháu theo Luật HNGĐ
Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 (văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH năm 2025, sau đây gọi là Luật HNGĐ) quy định quan hệ ông bà và cháu tại Điều 104, với hai tầng:
Tầng thứ nhất, áp dụng cho mọi gia đình. Ông bà có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà (khoản 2 Điều 104).
Tầng thứ hai, khi cháu không có người nuôi dưỡng. Cháu chưa thành niên, hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản, mà không có người nuôi dưỡng theo Điều 105 Luật HNGĐ, tức là không có anh, chị, em nuôi dưỡng, thì ông bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu (khoản 1 Điều 104). Theo chiều ngược lại, ông bà không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà.
Quyền của ông bà đối với cháu luôn đứng sau quyền của cha mẹ. Khi cha mẹ còn sống và đủ điều kiện, quyền nuôi, giáo dục, đại diện cho cháu thuộc về cha mẹ. Ông bà tham gia ở vị trí hỗ trợ, và chỉ thay thế khi cha mẹ không còn hoặc không làm được.
Ông bà có quyền thăm cháu sau khi cha mẹ ly hôn không
Luật HNGĐ chỉ quy định rõ quyền thăm nom con của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con (khoản 3 Điều 82), như trình bày tại bài quyền thăm nom con sau ly hôn. Bản án ly hôn không có phần quyết định riêng về lịch thăm cháu của ông bà.
Nhưng quyền thăm nom của ông bà vẫn được pháp luật bảo vệ qua một con đường khác. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình số 13/2022/QH15 coi hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu là bạo lực gia đình (điểm g khoản 1 Điều 3). Nghị định 282/2025/NĐ-CP phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu (Điều 42).
Trên thực tế, ông bà bị ngăn cản có thể:
- Thương lượng trực tiếp, hoặc thông qua người con của mình là cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi cháu. Lịch thăm của cha, mẹ thường là khung thời gian tự nhiên để ông bà gặp cháu.
- Đề nghị hòa giải ở cơ sở, hoặc trình báo Ủy ban nhân dân cấp xã, công an cấp xã nơi cháu cư trú để xử lý hành vi ngăn cản theo pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Các biện pháp và cơ quan có thẩm quyền xem tại bài bạo lực gia đình.
- Nếu việc ngăn cản đi kèm dấu hiệu cháu bị nuôi dạy không tốt, xem xét các yêu cầu tại Tòa án nêu ở phần dưới.
Theo chúng tôi, việc xử phạt hành chính hiếm khi làm quan hệ tốt lên, và thường nên là bước cuối. Một văn bản thỏa thuận về lịch thăm cháu giữa ông bà và người đang nuôi cháu, có xác nhận của tổ hòa giải, thường hiệu quả hơn.
Khi nào ông bà được nuôi cháu
Cha mẹ ly hôn, cả hai đều không đủ điều kiện nuôi con
Khi ly hôn, Tòa án giao con cho cha hoặc mẹ theo Điều 81 Luật HNGĐ. Ông bà không phải là đương sự trong yêu cầu nuôi con và không thể yêu cầu Tòa án giao cháu cho mình thay vì cho cha mẹ. Tuy vậy, khi cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, Tòa án giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 4 Điều 84 Luật HNGĐ), và ông bà thường là người giám hộ phù hợp nhất. Tiêu chí giao con khi ly hôn xem tại bài quyền nuôi con khi ly hôn.
Thực tiễn rất phổ biến là cha hoặc mẹ được giao nuôi con nhưng thực tế gửi cháu cho ông bà chăm sóc. Điều này hợp pháp. Quyền và nghĩa vụ pháp lý vẫn thuộc về người được giao nuôi con; ông bà chăm cháu với tư cách hỗ trợ.
Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu
Sau ly hôn, nếu người đang trực tiếp nuôi cháu không còn đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu, người thân thích có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con (điểm b khoản 2, điểm a khoản 5 Điều 84 Luật HNGĐ). Ông bà là người thân thích theo khoản 19 Điều 3 Luật HNGĐ.
Cần hiểu đúng: ông bà có quyền yêu cầu thay đổi, nhưng Tòa án sẽ giao cháu cho người còn lại trong số cha, mẹ nếu người đó đủ điều kiện. Chỉ khi cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện thì cháu mới được giao cho người giám hộ (khoản 4 Điều 84 Luật HNGĐ). Cháu từ đủ 07 tuổi trở lên được hỏi nguyện vọng (khoản 3 Điều 84). Căn cứ, hồ sơ và cách chứng minh xem tại bài thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Hạn chế quyền của cha, mẹ
Khi cha hoặc mẹ có hành vi tại khoản 1 Điều 85 Luật HNGĐ như bị kết án về tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, phá tán tài sản của con, có lối sống đồi trụy, xúi giục con làm việc trái pháp luật, người thân thích có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đó (điểm a khoản 2 Điều 86 Luật HNGĐ). Khi cả cha và mẹ đều bị hạn chế quyền, hoặc người còn lại không đủ điều kiện, việc trông nom, chăm sóc cháu được giao cho người giám hộ (khoản 2 Điều 87 Luật HNGĐ). Xem thêm bài hạn chế quyền cha mẹ đối với con.
Cha mẹ qua đời: ông bà làm người giám hộ
Cháu chưa thành niên không còn cha mẹ cần người giám hộ. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi là BLDS 2015) xác định người giám hộ đương nhiên theo thứ tự: anh ruột cả hoặc chị ruột cả, rồi anh chị ruột tiếp theo; nếu không có thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, và những người này có thể thỏa thuận cử một hoặc một số người làm giám hộ (khoản 1, khoản 2 Điều 52 BLDS 2015). Ông bà cùng giám hộ cho cháu là một trong hai ngoại lệ của nguyên tắc mỗi người chỉ có một người giám hộ (khoản 2 Điều 47 BLDS 2015).
Ông bà nội và ông bà ngoại tranh chấp nhau về việc giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ (đoạn 2 khoản 1 Điều 54 BLDS 2015), và phải xem xét nguyện vọng của cháu từ đủ 06 tuổi trở lên. Việc giám hộ phải được đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ xem tại bài giám hộ cho trẻ em.
Ông bà không được nhận cháu làm con nuôi
Nhiều ông bà nuôi cháu từ nhỏ muốn “làm giấy” nhận cháu làm con để thuận tiện cho hồ sơ học tập, hộ tịch. Luật Nuôi con nuôi số 52/2010/QH12 cấm việc ông, bà nhận cháu làm con nuôi (khoản 6 Điều 13). Con đường phù hợp là giám hộ. Điều này khác với cô, cậu, dì, chú, bác ruột, những người được ưu tiên nhận cháu làm con nuôi (điểm a khoản 1 Điều 5, điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi), và khác với cha dượng, mẹ kế, như trình bày tại bài cha dượng, mẹ kế và con riêng. Thủ tục nhận con nuôi nói chung xem tại bài thủ tục nhận con nuôi.
Cấp dưỡng giữa ông bà và cháu
Khoản 1 Điều 113 Luật HNGĐ: ông bà không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu chưa thành niên, hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình, khi không có người cấp dưỡng theo Điều 112 Luật HNGĐ. Theo chiều ngược lại, cháu đã thành niên không sống chung có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản và không có người khác cấp dưỡng (khoản 2 Điều 113).
Đây là nghĩa vụ bổ sung, chỉ phát sinh khi người có nghĩa vụ trước không có hoặc không thể thực hiện. Cha mẹ vẫn là người có nghĩa vụ đầu tiên với con. Thực tiễn, ông bà nội không thể bị buộc cấp dưỡng cho cháu chỉ vì người cha đẻ trốn tránh nghĩa vụ; người mẹ phải yêu cầu người cha thực hiện trước.
Ngược lại, khi người cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi cháu trốn tránh cấp dưỡng, ông bà đang chăm cháu là người thân thích có quyền yêu cầu Tòa án buộc người đó thực hiện nghĩa vụ (điểm a khoản 2 Điều 119 Luật HNGĐ). Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa ông bà và cháu bị phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng (điểm a khoản 1 Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP). Mức cấp dưỡng và cách tính xem tại bài nghĩa vụ cấp dưỡng.
Thừa kế giữa ông bà và cháu
Ông bà và cháu ruột ở hàng thừa kế thứ hai của nhau (điểm b khoản 1 Điều 651 BLDS 2015), nên chỉ hưởng thừa kế theo pháp luật khi không còn ai ở hàng thứ nhất. Ngoại lệ quan trọng là thừa kế thế vị: con của ông bà chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ mình được hưởng nếu còn sống (Điều 652 BLDS 2015). Vì vậy, cháu có cha hoặc mẹ đã mất vẫn có phần trong di sản của ông bà, dù người còn lại của cha mẹ cháu đã tái hôn.
Câu hỏi thường gặp
Ông bà có quyền thăm cháu khi bố mẹ ly hôn không?
Có. Luật HNGĐ ghi nhận quyền trông nom, chăm sóc cháu của ông bà (khoản 1 Điều 104), và ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giữa ông bà và cháu bị phạt 5 đến 10 triệu đồng (Điều 42 Nghị định 282/2025/NĐ-CP).
Ông bà nội có giành quyền nuôi cháu với mẹ được không?
Không trực tiếp. Ông bà chỉ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi cháu khi người đang nuôi không đủ điều kiện (khoản 5 Điều 84 Luật HNGĐ). Cháu chỉ được giao cho ông bà làm giám hộ khi cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện.
Ông bà có phải cấp dưỡng cho cháu không?
Ông bà có được nhận cháu làm con nuôi không?
Cha mẹ mất, ông bà nội và ông bà ngoại đều muốn nuôi cháu thì sao?
Tranh chấp liên quan đến ông bà và cháu gần như luôn nằm trong một mâu thuẫn lớn hơn giữa hai bên nội ngoại. Một luật sư hôn nhân và gia đình có thể giúp ông bà chọn đúng công cụ, từ thỏa thuận thăm cháu, yêu cầu xử lý hành vi ngăn cản, đến yêu cầu Tòa án về giám hộ hoặc thay đổi người nuôi cháu, mà không làm quan hệ gia đình tệ thêm.
Dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi đại diện ông bà trong các yêu cầu về giám hộ, thay đổi người trực tiếp nuôi cháu, hạn chế quyền của cha mẹ và buộc cấp dưỡng cho cháu.
