Quyền nuôi con khi ly hôn và cách Tòa án xác định người trực tiếp nuôi

Trong một buổi hòa giải có tranh chấp con, câu hỏi đầu tiên của Thẩm phán thường không liên quan đến lương. Câu hỏi thông thường là sáng nay ai đưa cháu đi học, cháu học thêm ở đâu, lần gần nhất cháu ốm thì ai đưa đi khám… Nhiều cha mẹ mang theo bảng lương, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thậm chí cả sổ tiết kiệm, và khá bất ngờ khi những giấy tờ đó chỉ được xem lướt qua. Quyền nuôi con khi ly hôn được quyết định theo lợi ích của đứa trẻ, và lợi ích ấy được đo bằng việc chăm sóc hằng ngày nhiều hơn bằng tài sản.

Tóm tắt

  • Cha mẹ được tự thỏa thuận ai trực tiếp nuôi con. Chỉ khi không thỏa thuận được, Tòa án mới quyết định, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con (khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
  • Khi tự thỏa thuận, Tòa vẫn kiểm tra nội dung thỏa thuận. Thỏa thuận không bảo đảm quyền lợi chính đáng của con thì Tòa không công nhận (Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
  • Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP liệt kê bảy tiêu chí đánh giá lợi ích của con. Thu nhập, nhà cửa chỉ là một phần trong tiêu chí thứ nhất.
  • Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ, trừ khi mẹ thuộc một trong ba trường hợp không đủ điều kiện và điều kiện của cha tốt hơn, hoặc cha mẹ thỏa thuận khác.
  • Con từ đủ 7 tuổi được Thẩm phán hỏi ý kiến riêng, không có mặt cha mẹ. Tòa phải xem xét nguyện vọng của con, và nguyện vọng đó được cân cùng các tiêu chí khác.
  • Người không trực tiếp nuôi vẫn có quyền thăm nom và nghĩa vụ cấp dưỡng. Phán quyết về người nuôi có thể thay đổi sau này nếu có căn cứ theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Thỏa thuận trước, Tòa án chỉ quyết định khi cha mẹ không thống nhất

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH năm 2025, sau đây gọi là Luật HNGĐ) đặt thỏa thuận lên trước. Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con và về quyền, nghĩa vụ của mỗi bên đối với con sau ly hôn; Tòa chỉ vào cuộc khi hai người không thống nhất được (khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ).

Con đường thủ tục phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó có tồn tại hay không. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (văn bản hợp nhất 21/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026, sau đây gọi là BLTTDS):

Tình trạng

Loại việc

Căn cứ

Cả hai đồng ý ly hôn và đã thống nhất người nuôi con, cấp dưỡngYêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con (việc dân sự)Khoản 2 Điều 29 BLTTDS
Còn tranh chấp người nuôi con, dù đã đồng ý ly hônTranh chấp về nuôi con khi ly hôn (vụ án)Khoản 1 Điều 28 BLTTDS
Một bên khởi kiện, bên kia đồng ý ly hôn và thỏa thuận được việc nuôi con trong quá trình giải quyếtVẫn được coi là vợ chồng cùng yêu cầu ly hônKhoản 1 Điều 3 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP

Trình tự nộp đơn, hồ sơ và thời hạn của từng loại được trình bày tại bài thủ tục ly hôn. Ở đây chỉ cần lưu ý một điều: chữ ký chung trên đơn thuận tình không biến mọi thỏa thuận thành hợp lệ. Điều 55 Luật HNGĐ chỉ cho Tòa công nhận thuận tình ly hôn khi thỏa thuận về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con. Thỏa thuận cũng không được vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội (khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, sau đây gọi là Nghị quyết 01/2024). Một thỏa thuận giao đứa trẻ hai tuổi cho người cha đang làm việc xa nhà, không có người chăm thay, rất dễ bị Thẩm phán hỏi lại.

Thực tế hay gặp cha mẹ muốn thỏa thuận “nuôi chung”, mỗi người nuôi con một nửa tuần hoặc luân phiên theo tháng. Luật không cấm thỏa thuận này, nhưng Điều 81, Điều 82 Luật HNGĐ được thiết kế quanh khái niệm một người trực tiếp nuôi, người còn lại thăm nom và cấp dưỡng. Từ kinh nghiệm hành nghề, cách an toàn hơn là xác định rõ một người trực tiếp nuôi trong văn bản, còn thời gian con ở với người kia thì đưa vào phần lịch thăm nom thật cụ thể. Như vậy, nơi cư trú của con, trường học và giấy tờ của con có một người chịu trách nhiệm rõ ràng.

07 tiêu chí Tòa án dùng để đánh giá lợi ích của con

Luật chỉ nói “quyền lợi về mọi mặt của con”. Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024 cụ thể hóa cụm từ này thành bảy tiêu chí, phải được đánh giá khách quan và toàn diện. Không có bảng điểm. Thẩm phán cân nhắc tổng thể, và một tiêu chí rất mạnh có thể bù cho tiêu chí yếu.

Tiêu chí (khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024)

Tòa thường muốn biết

Tài liệu có thể dùng

a) Điều kiện, khả năng chăm sóc, giáo dục con, kể cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lộtAi có thời gian, sức khỏe, chỗ ở phù hợp; ai đủ khả năng bảo vệ conLịch làm việc, xác nhận thu nhập, giấy tờ chỗ ở, tài liệu về người hỗ trợ chăm con
b) Quyền của con được sống với người trực tiếp nuôi và được duy trì quan hệ với người còn lạiBên nào sẵn sàng để con gặp người kiaTin nhắn, đề xuất lịch thăm nom, cách ứng xử khi ly thân
c) Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹCon thân với ai, quen sinh hoạt với aiLời khai giáo viên, người trông trẻ, hàng xóm
d) Sự quan tâm của cha, mẹ đối với conAi đi họp phụ huynh, đưa con đi khám, theo sát việc họcSổ liên lạc, hồ sơ khám bệnh, biên lai học phí
đ) Sự ổn định, hạn chế xáo trộn môi trường sống, học tậpSau ly hôn con có phải đổi trường, đổi nơi ở khôngNơi ở dự kiến, trường hiện tại, khoảng cách đi lại
e) Nguyện vọng ở cùng anh, chị, emCác con có gắn bó với nhau khôngHoàn cảnh từng con, phương án giữ liên hệ giữa các con
g) Nguyện vọng của con được sống với cha hoặc mẹCon muốn ở với ai, vì saoKết quả lấy ý kiến do Tòa thực hiện

Bảng trên là gợi ý để chuẩn bị, không phải danh mục hồ sơ bắt buộc. Người đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ (Điều 91 BLTTDS), và tài liệu chỉ thành chứng cứ khi đáp ứng điều kiện về nguồn và cách xác định tại Điều 93 đến Điều 95 BLTTDS.

Thu nhập và nhà cửa có vai trò đến đâu

Thu nhập nằm trong tiêu chí thứ nhất, và nó quan trọng ở chỗ con có đủ điều kiện sống, học tập hay không. Luật không xếp thu nhập lên trên các tiêu chí khác. Theo quan sát thực tiễn xét xử, khi cả hai bên đều đủ khả năng nuôi con ở mức bình thường, chênh lệch thu nhập ít khi là yếu tố quyết định, và phần chênh lệch đó thường được bù bằng nghĩa vụ cấp dưỡng của người có thu nhập cao hơn nếu người này không trực tiếp nuôi con. Nhà riêng cũng vậy. Người đi thuê nhà vẫn có thể được giao nuôi con nếu chỗ ở ổn định và phù hợp.

Thời gian mới là thứ hay bị bỏ qua. Người làm theo ca, đi công tác dài ngày cần trình bày cụ thể ai đón con khi mình đi làm, ai chăm khi con ốm, và lịch đó có duy trì được lâu dài không. Sự hỗ trợ của ông bà là điểm cộng thật, nhưng nếu toàn bộ việc chăm con đều do ông bà làm, Thẩm phán có thể hỏi ngược lại vì sao không giao con cho chính người đang chăm.

Ngoại tình, bạo lực và lối sống

Nhiều người nghĩ bên ngoại tình sẽ mất quyền nuôi con. Luật không quy định như vậy. Ngoại tình là căn cứ quan trọng trong vụ ly hôn đơn phương và là yếu tố lỗi khi chia tài sản, nhưng với việc nuôi con, câu hỏi luôn là hành vi đó ảnh hưởng đến đứa trẻ như thế nào. Một người ngoại tình nhưng vẫn chăm con chu đáo không đương nhiên bị đánh giá thấp hơn.

Bạo lực thì khác. Khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại là một phần của tiêu chí thứ nhất. Hành vi bạo lực với vợ, chồng hoặc con, nghiện rượu, ma túy, cờ bạc đều có thể làm người đó mất lợi thế rõ rệt, nhất là khi có biên bản của Công an, quyết định xử phạt hoặc hồ sơ y tế. Trường hợp nghiêm trọng, cha hoặc mẹ còn có thể bị Tòa hạn chế quyền của cha mẹ đối với con theo Điều 85 Luật HNGĐ, một thủ tục riêng có căn cứ và hệ quả khác với việc giao con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ, trừ hai trường hợp

Khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Có hai ngoại lệ: cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con, hoặc người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024 liệt kê ba trường hợp mẹ không đủ điều kiện:

  1. Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh nặng khác mà không thể tự chăm sóc bản thân hoặc không thể trực tiếp chăm con. Nghị quyết lấy ví dụ người mẹ bị đột quỵ, liệt nửa người, không còn khả năng đi lại.
  2. Có thu nhập mỗi tháng thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người mẹ đang cư trú, và không có tài sản nào khác để nuôi con. Đây là hai điều kiện cộng dồn. Người mẹ thu nhập thấp nhưng có tài sản, hoặc có khoản tiết kiệm, vẫn chưa rơi vào trường hợp này.
  3. Không có điều kiện về thời gian tối thiểu để trực tiếp chăm con. Nghị quyết không ấn định số giờ cụ thể, nên tình tiết này được đánh giá theo hoàn cảnh từng người.

Mức lương tối thiểu vùng hiện hành do Nghị định 293/2025/NĐ-CP quy định, áp dụng từ ngày 01/01/2026 (Điều 3, Điều 5 Nghị định 293/2025/NĐ-CP). Nghị định này ban hành cho quan hệ lao động, còn Nghị quyết 01/2024 mượn con số đó làm chuẩn. Ngưỡng “một nửa tháng lương tối thiểu vùng” vì vậy là:

Vùng

Lương tối thiểu tháng

Một nửa (ngưỡng thu nhập của mẹ, mức sàn cấp dưỡng)

Vùng I5.310.000 đồng2.655.000 đồng
Vùng II4.730.000 đồng2.365.000 đồng
Vùng III4.140.000 đồng2.070.000 đồng
Vùng IV3.700.000 đồng1.850.000 đồng

Vùng được xác định theo xã, phường cư trú, tra tại Phụ lục Nghị định 293/2025/NĐ-CP, không theo tên tỉnh. Ví dụ tại Hà Nội, các phường Hà Đông, Cầu Giấy, Đống Đa thuộc vùng I, còn những xã, phường không có trong danh sách vùng I thuộc vùng II. Con số này sẽ thay đổi khi Chính phủ ban hành nghị định lương tối thiểu mới, nên cần tra lại tại thời điểm Tòa giải quyết.

Khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 01/2024 thêm một tầng kiểm tra mà người cha thường không để ý: kể cả khi mẹ thuộc một trong ba trường hợp trên, nếu điều kiện chăm con của cha không tốt hơn, Tòa vẫn giao con cho mẹ. Vì vậy, người cha muốn nhận nuôi con nhỏ phải chứng minh đồng thời hai điều. Thứ nhất, mẹ thuộc một trong ba trường hợp tại khoản 3. Thứ hai, điều kiện của chính mình tốt hơn, cụ thể là có thời gian và người hỗ trợ chăm một đứa trẻ chưa đủ ba tuổi. Chỉ chứng minh được điều thứ nhất thì chưa đủ.

Trong thực tiễn xét xử, tuổi của con được xác định tại thời điểm Tòa giải quyết. Một vụ án kéo dài đến khi con đã qua 36 tháng tuổi thì quy tắc ưu tiên mẹ thường không còn được áp dụng, và Tòa xét theo bảy tiêu chí chung. Người mẹ có con nhỏ vì vậy không nên để hồ sơ kéo dài vô cớ.

Con từ đủ 7 tuổi được nói lên mong muốn của mình

Với con từ đủ 7 tuổi, Tòa phải xem xét nguyện vọng của con (khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ). Trong vụ án tranh chấp nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ 7 tuổi; khi cần thiết, có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến (đoạn 2 khoản 3 Điều 208 BLTTDS).

Cách lấy ý kiến được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2024:

  • Thân thiện, phù hợp tâm lý, độ tuổi, mức độ trưởng thành để con nói đúng và đủ suy nghĩ của mình;
  • Không lấy ý kiến trước mặt cha, mẹ;
  • Không ép buộc, gây áp lực, căng thẳng cho con.

BLTTDS còn yêu cầu giữ bí mật cá nhân của trẻ trong suốt quá trình này. Trên thực tế, Thẩm phán thường nói chuyện riêng với trẻ tại phòng làm việc, hỏi về việc học, sinh hoạt hằng ngày trước khi hỏi trẻ muốn ở với ai.

Nguyện vọng của con là tiêu chí thứ bảy trong khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024. Nó nặng ký, càng lớn càng nặng ký, nhưng vẫn được cân cùng các tiêu chí khác. Một đứa trẻ tám tuổi muốn ở với bố vì “ở với bố không phải học bài” sẽ được nghe, nhưng Tòa còn xem bố có thời gian kèm con học hay không. Luật không quy định trọng số cho nguyện vọng của con theo độ tuổi. Trong thực tiễn, một đứa trẻ mười ba tuổi giải thích rõ ràng vì sao muốn ở với mẹ, gắn với trường lớp, bạn bè và sự gần gũi thực tế, thường có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả.

Độ tuổi của con khi Tòa giải quyết

Điều cần biết

Dưới 36 thángÁp dụng nguyên tắc giao mẹ và các ngoại lệ tại khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ. Không lấy ý kiến của con.
Từ 36 tháng đến dưới 7 tuổiXét theo bảy tiêu chí chung. Luật không buộc lấy ý kiến của con, nhưng sự gắn bó của con vẫn được đánh giá.
Từ đủ 7 tuổi đến dưới 18 tuổiTòa phải xem xét nguyện vọng của con. Trong vụ án có tranh chấp, Thẩm phán lấy ý kiến theo đoạn 2 khoản 3 Điều 208 BLTTDS.
Con tròn 7 tuổi khi vụ việc đang giải quyếtCung cấp đúng ngày sinh để Tòa áp dụng quy định. Mốc tuổi tính tại thời điểm Tòa xem xét.

Với hồ sơ thuận tình ly hôn có con từ đủ 7 tuổi, nghĩa vụ xem xét nguyện vọng của con tại Điều 81 Luật HNGĐ vẫn áp dụng. Thẩm phán có thể trao đổi với con để kiểm tra thỏa thuận của cha mẹ có phù hợp với mong muốn và lợi ích của con hay không.

Cha mẹ nên làm gì trước buổi lấy ý kiến

Hãy nói với con rằng Tòa muốn nghe suy nghĩ thật của con, và con không phải chọn phe. Đừng tập trước câu trả lời, hứa thưởng, kể cho con nghe lỗi của bên kia, hay quay video con nói về vụ việc. Kinh nghiệm thực tế cho thấy Thẩm phán thường nhận ra một đứa trẻ đã được “chuẩn bị” qua cách trẻ dùng từ. Một câu trả lời học thuộc vừa mất giá trị, vừa làm người chuẩn bị bị đánh giá thấp ở tiêu chí b, khả năng tôn trọng quan hệ của con với người còn lại.

Nếu con sợ hãi, khó giao tiếp hoặc có vấn đề về tâm lý, hãy báo trước cho Thẩm phán để có cách lấy ý kiến phù hợp, có thể với sự tham gia của cán bộ về trẻ em.

Khi gia đình có nhiều con

Không có quy tắc chia đều con, cũng không có quy tắc giao tất cả các con cho một bên. Điểm e khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024 đưa nguyện vọng được ở cùng anh, chị, em vào tiêu chí đánh giá, nhằm bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của trẻ. Vì vậy, Tòa thường cân nhắc giữ các con ở với nhau khi chúng gắn bó, nhất là các con nhỏ tuổi gần nhau.

Thực tế vẫn có nhiều bản án giao mỗi bên nuôi một hoặc vài con, chẳng hạn con lớn đã đủ tuổi bày tỏ nguyện vọng ở với cha, con nhỏ dưới 36 tháng ở với mẹ. Khi đó, phương án giữ liên hệ giữa các con, như lịch để anh em gặp nhau cuối tuần, nên được đề xuất ngay trong hồ sơ.

Con đã thành niên

Quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng sau ly hôn không chỉ áp dụng cho con chưa thành niên. Khoản 1 Điều 81 Luật HNGĐ còn bao gồm con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 01/2024 xác nhận phạm vi này khi Tòa xem xét thỏa thuận về con trong thuận tình ly hôn. Gia đình có con khuyết tật nặng đã trên 18 tuổi cần đưa nội dung chăm sóc người con này vào đơn, kể cả phần cấp dưỡng.

Chuẩn bị chứng cứ mà không làm tổn thương con

Đoạn 1 khoản 3 Điều 208 BLTTDS buộc Thẩm phán, trong vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân phát sinh tranh chấp. Khi cần, Thẩm phán tham khảo ý kiến cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em. Tòa sẽ tự tìm hiểu, nhưng người chuẩn bị hồ sơ tốt vẫn định hướng được những gì Tòa nhìn thấy.

Một hồ sơ thuyết phục thường có:

  • Một dòng thời gian ngắn, kiểm tra được, về việc ai đưa đón con, liên hệ giáo viên, đưa con đi khám, kèm tài liệu tương ứng;
  • Phương án sống của con sau ly hôn: ở đâu, học trường nào, ai chăm khi mình đi làm;
  • Tài liệu về nguy cơ đối với con nếu có, như biên bản Công an, quyết định xử phạt, hồ sơ y tế;
  • Đề xuất cụ thể về lịch để con gặp người kia, cho thấy mình tôn trọng quan hệ của con với cả cha lẫn mẹ.

Tài liệu do trường học, bệnh viện, Công an quản lý mà mình không tự xin được thì làm đơn đề nghị Tòa thu thập, nêu rõ tài liệu cần thu thập và lý do (khoản 2 Điều 106 BLTTDS; Điều 97 BLTTDS). Tin nhắn nên giữ đủ ngữ cảnh và nguồn gốc, không cắt ghép. Đừng bắt con kể lại lỗi của bên kia, đừng ghi âm con, và đừng đưa hình ảnh con lên mạng để tranh luận.

Từ kinh nghiệm tham gia các vụ tranh chấp con căng thẳng, phần thắng thường thuộc về bên chuẩn bị hồ sơ sớm và trình bày bình tĩnh. Nếu cần đánh giá hồ sơ cụ thể và xây dựng phương án chứng minh trước khi nộp đơn, anh chị có thể tham khảo dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi.

Con ở với ai trong lúc chờ Tòa xét xử

Một vụ ly hôn có tranh chấp con có thể kéo dài nhiều tháng. Trong thời gian đó, con thường ở với người đang giữ con trên thực tế. Nhiều người vội đón con về ở với mình với suy nghĩ “ai giữ con thì được nuôi”. Tiêu chí ổn định môi trường sống quả thật có lợi cho người đang chăm con. Nhưng tự ý đưa con đi, giấu con, cắt liên lạc với người kia thường bị đánh giá bất lợi ở tiêu chí b, và có thể khiến người kia phản ứng bằng các biện pháp pháp lý khác.

Nếu thật sự cần xác định tạm thời người chăm con trước khi có bản án, có thể yêu cầu Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giao người chưa thành niên cho cá nhân trông nom, nuôi dưỡng (khoản 1 Điều 114, Điều 115 BLTTDS). Việc giao con từ đủ 7 tuổi theo biện pháp này cũng phải xem xét nguyện vọng của con. Con đang thiếu chi phí sinh hoạt thì có biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng (khoản 2 Điều 114, Điều 116 BLTTDS). Điều kiện, thủ tục và giới hạn của các biện pháp này được phân tích tại bài biện pháp khẩn cấp tạm thời khi ly hôn. Quyết định tạm thời không quyết định trước kết quả: người trực tiếp nuôi con vẫn được xác định theo Điều 81 Luật HNGĐ khi Tòa xét xử.

Nếu trẻ đang có nguy cơ bị bạo lực hoặc xâm hại, việc đầu tiên là báo Công an (113) hoặc Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111, không chờ thủ tục Tòa án.

Sau khi Tòa án giao con

Phán quyết về người trực tiếp nuôi con kéo theo một nhóm quyền và nghĩa vụ của cả hai bên.

Người không trực tiếp nuôi có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở (khoản 3 Điều 82 Luật HNGĐ), và người trực tiếp nuôi cùng các thành viên gia đình không được cản trở việc đó (khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ). Nên đề nghị Tòa ghi lịch thăm nom cụ thể ngay trong bản án hoặc quyết định. Cách xây dựng lịch và xử lý khi bị ngăn cản được trình bày trong bài về quyền thăm nom con sau ly hôn.

Người không trực tiếp nuôi cũng có nghĩa vụ cấp dưỡng (khoản 2 Điều 82 Luật HNGĐ). Không thỏa thuận được thì Tòa quyết định, với mức không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng cư trú, cho mỗi tháng, đối với mỗi người con (khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024), tức là theo bảng mức sàn ở phần con dưới 36 tháng tuổi. Người trực tiếp nuôi tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng và có đủ điều kiện nuôi con thì Tòa không buộc bên kia cấp dưỡng (khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 01/2024). Cách tính mức, phương thức trả và chứng từ cần giữ được trình bày tại bài cấp dưỡng nuôi con.

Phán quyết về con cũng không cố định suốt đời. Khi cha mẹ thỏa thuận lại phù hợp với lợi ích của con, hoặc người đang nuôi không còn đủ điều kiện, có thể yêu cầu Tòa thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 84 Luật HNGĐ). Còn nếu bên phải giao con theo bản án không thực hiện, việc này được xử lý qua cơ quan thi hành án dân sự bằng thủ tục cưỡng chế giao con. Tự đi “đón” con bằng sức ép chỉ làm hồ sơ của mình xấu đi.

Nếu không đồng ý với phần quyết định về con trong bản án sơ thẩm, đương sự có 15 ngày kể từ ngày tuyên án để kháng cáo; người vắng mặt có lý do chính đáng thì tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết (khoản 1 Điều 273 BLTTDS). Quyết định công nhận thuận tình ly hôn, kể cả phần thỏa thuận về con, có hiệu lực ngay và không bị kháng cáo (khoản 4 Điều 397, khoản 1 Điều 213 và Điều 371 BLTTDS). Vì vậy, đừng ký thỏa thuận về con khi chưa chắc chắn, với suy nghĩ sau này sẽ khiếu nại lại.

Về án phí của phần tranh chấp con trong vụ ly hôn, xem bài án phí ly hôn.

Câu hỏi thường gặp

Không chắc chắn. Tòa phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi (khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ), nhưng nguyện vọng đó là một trong bảy tiêu chí tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024. Con càng lớn và lý do càng rõ ràng thì ý kiến của con càng có trọng lượng.

Có thể, nhưng khó. Người cha phải chứng minh mẹ thuộc một trong ba trường hợp không đủ điều kiện tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024, đồng thời điều kiện chăm con của mình tốt hơn mẹ (khoản 4 Điều 6). Trường hợp cha mẹ tự thỏa thuận giao con cho cha thì Tòa công nhận nếu thỏa thuận phù hợp lợi ích của con.

Không đương nhiên. Thu nhập chỉ là một phần của tiêu chí điều kiện nuôi con. Nếu người có thu nhập thấp hơn chăm con tốt hơn và gắn bó hơn, Tòa có thể giao con cho người đó và buộc bên kia cấp dưỡng.
Luật không quy định như vậy. Tòa xem hành vi đó ảnh hưởng thế nào đến việc chăm sóc, giáo dục con. Ngoại tình có ảnh hưởng lớn ở căn cứ ly hôn và khi chia tài sản hơn là ở việc giao con.

Áp dụng đúng các quy định về nuôi con tại Điều 81 đến Điều 84 Luật HNGĐ, kể cả quy tắc con dưới 36 tháng tuổi, vì quyền của con không phụ thuộc tình trạng hôn nhân của cha mẹ (khoản 2 Điều 68 Luật HNGĐ). Tòa tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng và giải quyết việc nuôi con nếu có yêu cầu (khoản 2 Điều 53 Luật HNGĐ). Các hệ quả khác của tình trạng chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn, nhất là về tài sản, được phân tích trong bài riêng.

Có thể, nếu bảo đảm được lợi ích của con. Tòa sẽ cân nhắc rất kỹ tiêu chí ổn định môi trường sống và khả năng duy trì quan hệ với người ở lại. Thẩm quyền, tống đạt và thời hạn của loại vụ này có điểm riêng, xem bài ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Điều 84 Luật HNGĐ. Nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi phải được xem xét (khoản 3 Điều 84 Luật HNGĐ), nhưng căn cứ để thay đổi vẫn là thỏa thuận mới của cha mẹ hoặc việc người đang nuôi không còn đủ điều kiện. Điều kiện và hồ sơ của yêu cầu này được trình bày tại bài thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Tranh chấp quyền nuôi con ít khi chỉ là chuyện pháp lý. Nếu anh chị cần một luật sư cùng đánh giá hồ sơ, chuẩn bị chứng cứ và tham gia phiên hòa giải, xét xử, hãy liên hệ với chúng tôi qua trang dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình.

Các vấn đề hôn nhân và gia đình cần được xử lý thấu đáo cả về pháp lý lẫn sự riêng tư. Luật Quốc Ấn tiếp nhận đánh giá sơ bộ và tư vấn hướng giải quyết phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của bạn.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698