Ngăn tẩu tán tài sản và bảo vệ người bị bạo lực khi ly hôn

Những hồ sơ tẩu tán tài sản Luật sư từng xử lý hầu như đều rơi vào cùng một khoảng thời gian: từ lúc một bên nói ra chữ “ly hôn” đến lúc Tòa thụ lý đơn. Vài tuần đó đủ để một sổ tiết kiệm được tất toán, một chiếc xe được sang tên cho người quen, một căn nhà được đem đi thế chấp. Bạo lực gia đình cũng có nhịp tương tự, thường leo thang đúng lúc người kia bắt đầu tìm cách rời đi.

Nếu bạn hoặc con đang bị đe dọa ngay lúc này, hãy rời khỏi nơi nguy hiểm khi có thể làm an toàn và gọi 113. Cần cấp cứu gọi 115. Trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại có thể báo 111, Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em. Không cần chờ có đơn ly hôn, cũng không cần đủ giấy tờ mới được báo tin.

Tóm tắt

  • Người bị bạo lực gia đình có ba tầng bảo vệ, không loại trừ nhau: Công an cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã (cấm tiếp xúc tối đa 03 ngày mỗi lần) và Tòa án đang giải quyết vụ án (cấm tiếp xúc tối đa 04 tháng).
  • Biện pháp khẩn cấp tạm thời về tài sản chỉ áp dụng trong vụ án. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn là việc dân sự, không đi kèm biện pháp này.
  • Muốn chặn tài sản trước khi Tòa thụ lý, phải nộp đơn yêu cầu cùng lúc với đơn khởi kiện, và trong đơn khởi kiện phải có yêu cầu chia chính tài sản đó. Thẩm phán xem xét trong 48 giờ.
  • Kê biên, cấm chuyển dịch, phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản đều buộc người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, khoản bảo đảm thường không thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài sản bị áp dụng. Cấm tiếp xúc và buộc cấp dưỡng trước thì không phải bảo đảm.
  • Nhiều giao dịch tẩu tán vốn đã bị luật chặn sẵn: bán bất động sản chung mà không có văn bản thỏa thuận của vợ chồng có thể bị tuyên vô hiệu. Hành vi chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung còn là bạo lực gia đình về kinh tế, bị phạt đến 30 triệu đồng.

Bài này nói về những gì làm được trong lúc vụ ly hôn chưa kết thúc. Quy trình nộp đơn, hồ sơ và thời hạn chung có tại bài thủ tục ly hôn và hồ sơ cần chuẩn bị.

An toàn trước, thủ tục sau

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 (Luật PCBLGĐ) đặt trách nhiệm phản ứng đầu tiên cho Công an. Cơ quan Công an, Đồn Biên phòng gần nơi xảy ra bạo lực khi nhận tin báo phải kịp thời ngăn chặn, xử lý và báo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã (khoản 1 Điều 20 Luật PCBLGĐ). Người có thẩm quyền được áp dụng ngay các biện pháp cần thiết để buộc chấm dứt hành vi bạo lực (Điều 23 Luật PCBLGĐ).

Hai công cụ ít người biết:

  • Yêu cầu người gây bạo lực đến trụ sở Công an xã. Trưởng Công an xã có quyền này khi người bị bạo lực là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không tự chăm sóc được, hoặc khi có căn cứ cho thấy bạo lực đã hoặc có thể tiếp tục gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng. Người đó không chấp hành thì Công an được dùng công cụ hỗ trợ để đưa đến (Điều 24 Luật PCBLGĐ).
  • Nơi tạm lánh. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định bố trí nơi tạm lánh cho người bị bạo lực, bên cạnh sự hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tự nguyện (khoản 1 Điều 28 Luật PCBLGĐ).

Biên bản Công an lập trong những lần can thiệp này sau đó sẽ là chứng cứ quan trọng nhất của vụ ly hôn.

Ba tầng bảo vệ khi bị bạo lực gia đình

TầngAi quyết địnhThời hạnĐiều kiện chính
Triệu tập đến trụ sở Công anTrưởng Công an xãNgay khi giải quyết vụ việcNạn nhân thuộc nhóm dễ tổn thương, hoặc có nguy cơ tiếp diễn (Điều 24 Luật PCBLGĐ)
Cấm tiếp xúc hành chínhChủ tịch UBND cấp xã nơi xảy ra bạo lựcKhông quá 03 ngày mỗi lầnCó đề nghị và hành vi gây tổn hại, đe dọa sức khỏe, tính mạng; hoặc đe dọa tính mạng (Điều 25 Luật PCBLGĐ)
Cấm tiếp xúc tư phápTòa án đang thụ lý vụ án dân sự giữa hai bênKhông quá 04 thángCó đơn yêu cầu và hành vi gây tổn hại, đe dọa sức khỏe, tính mạng; Tòa tự quyết khi cần bảo vệ tính mạng (Điều 26 Luật PCBLGĐ)

Cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã

Đây là công cụ nhanh nhất vì không phụ thuộc vào việc đã có vụ án hay chưa. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực quyết định cấm tiếp xúc mỗi lần không quá 03 ngày trong hai trường hợp (khoản 1 Điều 25 Luật PCBLGĐ):

  • có đề nghị của người bị bạo lực, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của họ, hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đối với hành vi gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại sức khỏe, hoặc đe dọa tính mạng. Nếu cơ quan, tổ chức đề nghị thì phải được người bị bạo lực đồng ý;
  • hành vi bạo lực đe dọa tính mạng của người bị bạo lực. Nhánh này không cần đơn đề nghị.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xem xét trong 12 giờ kể từ khi nhận đề nghị. Không ra quyết định thì phải trả lời bằng văn bản, nêu lý do (khoản 2 Điều 25 Luật PCBLGĐ). Quyết định có hiệu lực ngay khi ký (khoản 3 Điều 25 Luật PCBLGĐ).

Hai chi tiết đáng chú ý trong thực tế:

  • Người bị bạo lực được quyền chọn chỗ ở trong thời gian cấm tiếp xúc (khoản 5 Điều 25 Luật PCBLGĐ). Luật không buộc người bị hại phải rời khỏi nhà.
  • Vi phạm quyết định cấm tiếp xúc thì người gây bạo lực bị tạm giữ người theo thủ tục hành chính (khoản 6 Điều 25 Luật PCBLGĐ). Ngoài ra, cố tình đến gần người bị bạo lực trong phạm vi 100 m mà không có tường hoặc vách ngăn bảo đảm an toàn bị phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng. Dùng điện thoại, thư điện tử hoặc phương tiện khác để thực hiện bạo lực với người không được tiếp xúc bị phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng và tịch thu phương tiện (Điều 53 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, sau đây gọi là Nghị định 282/2025).

Ba ngày nghe có vẻ ngắn. Thực ra đó là khoảng thời gian để người bị hại thu xếp chỗ ở, gửi con về nhà ngoại, và nộp đơn ly hôn kèm yêu cầu cấm tiếp xúc tại Tòa. Quyết định có thể được áp dụng lại ở lần sau nếu bạo lực tái diễn.

Cấm tiếp xúc do Tòa án quyết định

Khi vụ án ly hôn đã được thụ lý, Tòa án đang giải quyết vụ án được quyết định cấm tiếp xúc trong thời gian không quá 04 tháng nếu hành vi bạo lực gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại sức khỏe, hoặc đe dọa tính mạng, và có đơn yêu cầu (khoản 1 Điều 26 Luật PCBLGĐ). Đây cũng là một biện pháp khẩn cấp tạm thời theo khoản 14 Điều 114 và Điều 129 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS). Thủ tục áp dụng theo pháp luật tố tụng dân sự (khoản 7 Điều 26 Luật PCBLGĐ).

Ba điểm khác biệt so với các biện pháp về tài sản:

  1. Tòa có thể tự mình quyết định khi cần bảo vệ tính mạng người bị bạo lực, kể cả khi đương sự không yêu cầu (khoản 2 Điều 26 Luật PCBLGĐ; Điều 135 BLTTDS).
  2. Không phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Khoản 1 Điều 136 BLTTDS chỉ buộc bảo đảm với các biện pháp tại khoản 6, 7, 8, 10, 11, 15, 16 Điều 114 BLTTDS. Cấm tiếp xúc nằm ở khoản 14.
  3. Không thay thế đơn ly hôn. Tòa chỉ ra lệnh cấm tiếp xúc trong một vụ án dân sự đang thụ lý giữa hai người. Chưa có vụ án thì phải dùng kênh Ủy ban nhân dân cấp xã.

Khi gia đình có việc cưới, việc tang hoặc trường hợp đặc biệt khác, người bị cấm tiếp xúc vẫn có thể gặp mặt, nhưng phải báo người được phân công giám sát và cam kết không để xảy ra bạo lực (khoản 6 Điều 26, khoản 7 Điều 25 Luật PCBLGĐ). Việc giám sát do Công an xã chủ trì cùng Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố (khoản 1 Điều 27 Luật PCBLGĐ).

Xử phạt hành chính và trách nhiệm hình sự

Cấm tiếp xúc là biện pháp ngăn chặn, không phải chế tài. Bên cạnh đó, người gây bạo lực còn có thể bị xử phạt hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự:

  • Đe dọa xâm hại sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình: phạt từ 2.000.000 đến 5.000.000 đồng (khoản 1 Điều 37 Nghị định 282/2025);
  • Đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại sức khỏe chưa đến mức truy cứu hình sự: phạt từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng, buộc chi trả chi phí khám chữa bệnh (khoản 2, điểm b khoản 5 Điều 37 Nghị định 282/2025);
  • Dùng công cụ, phương tiện gây thương tích: phạt từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng (điểm b khoản 3 Điều 37 Nghị định 282/2025);
  • Cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp: phạt từ 5.000.000 đến 30.000.000 đồng tùy mức độ (Điều 45 Nghị định 282/2025).

Các mức trên áp dụng với cá nhân. Hành vi gây thương tích ở mức nghiêm trọng hơn, hoặc ngược đãi, hành hạ vợ, chồng, con có thể bị truy cứu theo Bộ luật Hình sự 2015 (BLHS), ví dụ tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS) hoặc tội ngược đãi, hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185 BLHS).

Quyết định xử phạt đã có hiệu lực thuộc diện tình tiết không phải chứng minh lại trong vụ ly hôn (điểm b khoản 1 Điều 92 BLTTDS). Vì vậy, đừng rút đơn trình báo chỉ vì người kia xin lỗi.

Không bắt buộc phải ngồi hòa giải với người gây bạo lực

Nhiều người lo ngại sẽ phải đối mặt với người gây bạo lực tại buổi hòa giải. Luật cho phép tránh điều này ở cả hai giai đoạn:

  • Trước khi Tòa thụ lý, việc hòa giải, đối thoại theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020 (Luật HGĐT) không được tiến hành nếu một bên đề nghị không hòa giải (khoản 5 Điều 19 Luật HGĐT), hoặc nếu một bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (khoản 6 Điều 19 Luật HGĐT).
  • Sau khi thụ lý, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nếu một đương sự đề nghị không hòa giải (khoản 4 Điều 207 BLTTDS).

Nên ghi thẳng đề nghị không hòa giải vào đơn khởi kiện và nêu lý do an toàn. Đồng thời cung cấp cho Tòa một địa chỉ liên lạc an toàn nếu bạn đã chuyển đến nơi tạm lánh. Không tự hẹn gặp người gây bạo lực để “nói chuyện cho xong” hay để thu thập chứng cứ.

Tẩu tán tài sản trước và trong khi ly hôn

Những giao dịch luật đã chặn sẵn

Trước khi nghĩ đến Tòa án, cần biết rằng nhiều cách tẩu tán phổ biến vốn đã vướng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật HNGĐ):

Hành viQuy định chặnHệ quả
Bán, tặng, thế chấp bất động sản chungĐịnh đoạt bất động sản, động sản phải đăng ký, tài sản tạo thu nhập chủ yếu của gia đình phải có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ)Giao dịch thiếu sự thỏa thuận có thể bị yêu cầu tuyên vô hiệu
Tài sản chung chỉ đứng tên một người, người đó tự bánGiao dịch trái quy định về đại diện giữa vợ chồng thì vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình được bảo vệ (khoản 2 Điều 26 Luật HNGĐ)Người thứ ba ngay tình có thể vẫn được bảo vệ, nên cần hành động sớm
Bán nhà là nơi ở duy nhấtPhải có thỏa thuận của vợ chồng, kể cả nhà thuộc sở hữu riêng thì chủ sở hữu vẫn phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng (Điều 31 Luật HNGĐ)Căn cứ để phản đối giao dịch
Lập văn bản chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để né nghĩa vụChia tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng, trả nợ… thì vô hiệu (Điều 42 Luật HNGĐ)Tài sản quay về khối chung

Hành vi tẩu tán còn có giá trị ở hai phương diện khác. Thứ nhất, lỗi của mỗi bên là một yếu tố Tòa xem xét khi chia tài sản chung (điểm d khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ). Thứ hai, phá tán tài sản gia đình là ví dụ điển hình của “vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng”, một căn cứ ly hôn đơn phương (khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP). Phần căn cứ này được phân tích ở bài ly hôn đơn phương.

Chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung hoặc tài sản riêng của người kia, và kiểm soát thu nhập để tạo sự lệ thuộc, là bạo lực gia đình về kinh tế (điểm n, điểm o khoản 1 Điều 3 Luật PCBLGĐ). Mức phạt từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng, kèm biện pháp buộc trả lại tài sản hoặc nộp lại số tiền tương đương giá trị tài sản đã bị tẩu tán (Điều 44 Nghị định 282/2025).

Tuy vậy, tuyên giao dịch vô hiệu là con đường dài và tốn kém. Chặn giao dịch trước khi nó xảy ra vẫn hiệu quả hơn nhiều, và đó là việc của biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Chọn đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khoản 1 Điều 111 BLTTDS cho phép đương sự yêu cầu Tòa đang giải quyết vụ án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ tài sản, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh thiệt hại không thể khắc phục, bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án. Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết 02/2020) hướng dẫn chi tiết chương này, và lấy đúng một ví dụ ly hôn: người vợ đứng tên sổ tiết kiệm, người chồng yêu cầu phong tỏa tài khoản đó để bảo đảm việc chia tài sản chung (điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2020). Với tài sản trong vụ ly hôn, các biện pháp thường dùng là:

Tình huốngBiện phápĐiều kiện áp dụng
Người đang giữ tài sản tranh chấp có hành vi tẩu tán, hủy hoạiKê biên tài sản đang tranh chấp (khoản 6 Điều 114 BLTTDS)Có căn cứ cho thấy hành vi tẩu tán, hủy hoại (khoản 1 Điều 120 BLTTDS)
Nhà đất, xe đứng tên một bên, có dấu hiệu rao bán, sang tênCấm chuyển dịch quyền về tài sản (khoản 7 Điều 114 BLTTDS)Có căn cứ cho thấy hành vi chuyển dịch cho người khác (Điều 121 BLTTDS)
Nhà đang bị đập phá, xây thêm, tháo dỡCấm thay đổi hiện trạng tài sản (khoản 8 Điều 114 BLTTDS)Có căn cứ về hành vi làm thay đổi hiện trạng (Điều 122 BLTTDS)
Tiền gửi ngân hàng, sổ tiết kiệm đứng tên bên kiaPhong tỏa tài khoản (khoản 10 Điều 114 BLTTDS)Cần thiết để bảo đảm giải quyết vụ án, thi hành án (Điều 124 BLTTDS). Chỉ phong tỏa phần tương đương nghĩa vụ (khoản 4 Điều 133 BLTTDS; Điều 12 Nghị quyết 02/2020)
Cổ phần, xe hoặc tài sản khác của người có nghĩa vụPhong tỏa tài sản (khoản 11 Điều 114 BLTTDS)Có tài sản và cần thiết để bảo đảm giải quyết vụ án, thi hành án (Điều 126 BLTTDS)
Người có nghĩa vụ chuẩn bị ra nước ngoàiCấm xuất cảnh (khoản 13 Điều 114 BLTTDS)Người đó đang bị yêu cầu thực hiện nghĩa vụ và việc xuất cảnh ảnh hưởng đến giải quyết vụ án, thi hành án (Điều 128 BLTTDS; khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 02/2020). Với người nước ngoài, Tòa áp dụng tạm hoãn xuất cảnh thay cho cấm xuất cảnh (khoản 2 Điều 9 Nghị quyết 02/2020)
Con đang thiếu chi phí nuôi dưỡngBuộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng (khoản 2 Điều 114 BLTTDS)Yêu cầu cấp dưỡng có căn cứ, không thực hiện ngay sẽ ảnh hưởng sức khỏe, đời sống người được cấp dưỡng (Điều 116 BLTTDS)

Nếu bên kia là người nước ngoài hoặc đang chuẩn bị rời Việt Nam, các vấn đề về tống đạt, thời hạn và thẩm quyền được trình bày tại bài ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Với quyền sử dụng đất, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có tác dụng thực tế rất rõ. Luật Đất đai 2024 không cho chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (điểm đ khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024). Người yêu cầu có nghĩa vụ nộp bản sao quyết định cho cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (khoản 2 Điều 142 BLTTDS). Nên làm việc này ngay trong ngày nhận quyết định.

Một giới hạn hay bị bỏ qua: tài sản đang thế chấp ngân hàng mà biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì Tòa không áp dụng cấm chuyển dịch hoặc phong tỏa tài sản, trừ khi người yêu cầu chính là bên nhận bảo đảm (điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 02/2020). Với căn nhà đang thế chấp, cần chọn biện pháp khác, ví dụ cấm thay đổi hiện trạng, hoặc tập trung vào tài sản chưa bị thế chấp.

Bốn điều kiện Tòa sẽ kiểm tra

  1. Tài sản phải là đối tượng của vụ án. Các biện pháp kê biên, cấm chuyển dịch, cấm thay đổi hiện trạng đều gắn với “tài sản đang tranh chấp”. Với kê biên, Nghị quyết 02/2020 ghi rõ tài sản phải là đối tượng của quan hệ tranh chấp Tòa đang giải quyết (khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 02/2020). Nếu đơn khởi kiện chỉ xin ly hôn mà không yêu cầu chia tài sản, sẽ không có căn cứ để chặn tài sản đó.
  2. Phải có căn cứ, không chỉ là suy đoán. Các Điều 120, 121, 122 BLTTDS đều dùng cụm “có căn cứ cho thấy”. Tin đăng rao bán nhà, lịch hẹn công chứng, tin nhắn bàn chuyện sang tên, sao kê cho thấy tiền đang bị rút dần là loại tài liệu Tòa cần. Người yêu cầu phải cung cấp chứng cứ chứng minh sự cần thiết (khoản 1 Điều 133 BLTTDS). Với kê biên, phải có tài liệu chứng minh hành vi tẩu tán, hủy hoại; Nghị quyết 02/2020 lấy ví dụ vi bằng của Thừa phát lại ghi nhận việc đập phá tài sản (khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 02/2020). Nếu chứng cứ chưa đủ, Thẩm phán yêu cầu bổ sung trong 24 giờ (điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 02/2020).
  3. Thực hiện biện pháp bảo đảm. Người yêu cầu phải nộp chứng từ bảo lãnh của ngân hàng hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý, giấy tờ có giá do Tòa ấn định, tương đương thiệt hại có thể phát sinh nếu áp dụng biện pháp không đúng (khoản 1 Điều 136 BLTTDS). Đây không phải án phí ly hôn. Thẩm phán dự kiến thiệt hại có thể xảy ra, nhưng khoản bảo đảm không thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài sản bị áp dụng, trừ khi có chứng cứ rõ ràng cho thấy thiệt hại thấp hơn (khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 02/2020). Nếu biện pháp bị hủy, người yêu cầu được nhận lại khoản bảo đảm, trừ trường hợp phải bồi thường (khoản 2 Điều 138 BLTTDS).
  4. Chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình. Yêu cầu không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì người yêu cầu phải bồi thường (khoản 1 Điều 113 BLTTDS). Với phong tỏa, người yêu cầu còn phải chứng minh giá trị tài khoản, tài sản bị phong tỏa. Nếu tài sản không chia được mà giá trị cao hơn nghĩa vụ, Tòa sẽ giải thích để đổi sang tài sản hoặc biện pháp khác, không đổi thì bác yêu cầu (khoản 2, khoản 3 Điều 12 Nghị quyết 02/2020). Vì vậy, đừng xin phong tỏa mọi tài khoản của bên kia chỉ vì bực tức.

Về khoản bảo đảm, cần thẳng thắn với khách hàng: với mức sàn 20%, cấm chuyển dịch một căn nhà tạm tính 3 tỷ đồng có thể cần gửi khoảng 600 triệu đồng vào tài khoản phong tỏa. Người yêu cầu cần tính trước nguồn tiền này, nhất là khi phải nộp gấp theo thủ tục khẩn cấp dưới đây.

Nộp đơn yêu cầu cùng lúc với đơn khởi kiện

Nếu nguy cơ tẩu tán đã hiện hữu, không nên chờ Tòa thụ lý rồi mới yêu cầu. Trong tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay chứng cứ hoặc ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, người khởi kiện được yêu cầu Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện (khoản 2 Điều 111 BLTTDS). Khi đó:

  • Chánh án phân công ngay một Thẩm phán, kể cả khi đơn được nhận ngoài giờ làm việc hoặc vào ngày nghỉ (khoản 3 Điều 133 BLTTDS; khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 02/2020). Trong 48 giờ kể từ khi nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán phải ra quyết định áp dụng hoặc thông báo bằng văn bản lý do không chấp nhận (khoản 3 Điều 133 BLTTDS).
  • Đơn khởi kiện còn phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung không cản trở việc giải quyết yêu cầu khẩn cấp, miễn là đã đủ để xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa nhận đơn (khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 02/2020).
  • Biện pháp bảo đảm phải được thực hiện trong thời hạn không quá 48 giờ kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu và được Tòa chấp nhận (đoạn 2 khoản 1 Điều 136 BLTTDS; điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 02/2020).
  • Quyết định có hiệu lực thi hành ngay (khoản 1 Điều 139 BLTTDS) và được thi hành theo pháp luật thi hành án dân sự (khoản 1 Điều 142 BLTTDS).
  • Việc yêu cầu biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng khiến đơn không bị chuyển qua bước hòa giải, đối thoại trước thụ lý (khoản 6 Điều 19 Luật HGĐT).

Nếu vụ án đã được thụ lý, đơn yêu cầu gửi cho Thẩm phán đang giải quyết. Thẩm phán giải quyết trong 03 ngày làm việc kể từ khi nhận đơn, hoặc ngay sau khi người yêu cầu hoàn tất biện pháp bảo đảm (điểm a khoản 2 Điều 133 BLTTDS). Thời hạn nộp bảo đảm trong giai đoạn này là 02 ngày làm việc kể từ khi Tòa ra quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm (điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 02/2020).

Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính theo khoản 1 Điều 133 BLTTDS: thông tin người yêu cầu và người bị yêu cầu, tóm tắt nội dung tranh chấp, lý do cần áp dụng, biện pháp cụ thể và yêu cầu cụ thể. Thực tế, đơn được chấp nhận nhanh thường có ba thứ: mô tả tài sản đủ để định danh (số thửa, số giấy chứng nhận, số tài khoản, biển số xe), một đoạn ngắn nêu rõ hành vi tẩu tán kèm tài liệu, và đề xuất mức bảo đảm hợp lý.

Không đồng ý với quyết định áp dụng, hoặc với việc Thẩm phán không áp dụng, thì đương sự có quyền khiếu nại với Chánh án trong 03 ngày làm việc. Chánh án giải quyết trong 03 ngày làm việc và quyết định này là cuối cùng (Điều 140, Điều 141 BLTTDS).

Thuận tình ly hôn không đi kèm biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khoản 1 Điều 111 BLTTDS trao quyền yêu cầu “trong quá trình giải quyết vụ án”, còn khoản 2 gắn với “việc nộp đơn khởi kiện”. Nghị quyết 02/2020 nói thẳng: Tòa án không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết việc dân sự quy định tại Phần thứ sáu BLTTDS (khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 02/2020). Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn là một việc dân sự thuộc phần này.

Hệ quả thực tế: nếu nghi ngờ bên kia đồng ý ly hôn chỉ để kéo thời gian tẩu tán tài sản, đừng ký đơn thuận tình. Hãy khởi kiện vụ án ly hôn có yêu cầu chia tài sản, kèm đơn yêu cầu biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nếu đang giải quyết theo thủ tục thuận tình mà hai bên không còn thỏa thuận được về tài sản, con, Tòa sẽ đình chỉ việc dân sự và thụ lý vụ án (khoản 5 Điều 397 BLTTDS). Từ thời điểm đó mới có thể yêu cầu biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Con chung trong thời gian chờ phán quyết

Một biện pháp khẩn cấp tạm thời hay bị hiểu nhầm là giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng (khoản 1 Điều 114 BLTTDS). Điều 115 BLTTDS đặt điều kiện người chưa thành niên “chưa có người giám hộ”, và phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi. Dù vậy, chính Nghị quyết 02/2020 nêu ví dụ Thẩm phán áp dụng biện pháp giao con cho cha trông nom trước phiên tòa trong một vụ án (khoản 3 Điều 19 Nghị quyết 02/2020), nên biện pháp này vẫn có thể được xem xét trong vụ ly hôn. Điều cần hiểu đúng là nó chỉ có tính tạm thời. Trong ví dụ đó, bản án giao con cho mẹ, và quyết định giao con cho cha bị hủy bỏ kể từ ngày bản án có hiệu lực. Người trực tiếp nuôi con sau ly hôn vẫn được quyết định theo Điều 81 Luật HNGĐ khi Tòa giải quyết nội dung vụ án.

Với con chung, biện pháp dùng được nhiều hơn là buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 116 BLTTDS). Biện pháp này không phải thực hiện bảo đảm. Tòa cũng có thể tự mình quyết định (Điều 135 BLTTDS), nhưng chỉ khi thực sự cấp bách và đương sự có lý do chính đáng hoặc trở ngại khách quan nên không làm đơn được (khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 02/2020). Vì vậy, nên chủ động làm đơn.

Nếu trẻ đang bị bạo lực hoặc bị đe dọa, hành động đầu tiên vẫn là gọi 111 hoặc 113, không phải chờ thủ tục Tòa án. Bỏ mặc, không nuôi dưỡng, không giáo dục trẻ em là hành vi bạo lực gia đình (điểm d khoản 1 Điều 3 Luật PCBLGĐ).

Những chứng cứ nên giữ ngay từ bây giờ

Luật cho phép người có âm thanh, hình ảnh về hành vi bạo lực gia đình cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền (khoản 1 Điều 21 Luật PCBLGĐ). Danh sách nên chuẩn bị:

  • Về bạo lực: giấy khám thương, hồ sơ cấp cứu, ảnh chụp thương tích có ngày giờ, tin nhắn đe dọa, biên bản làm việc của Công an, quyết định xử phạt, quyết định cấm tiếp xúc đã có.
  • Về tài sản: bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký xe, sổ tiết kiệm, sao kê tài khoản trong vài tháng gần nhất, danh sách cổ phần. Có thêm dấu hiệu tẩu tán thì giữ lại tin rao bán, lịch hẹn công chứng, thông báo thay đổi đăng ký.
  • Về con: giấy khai sinh, xác nhận của nhà trường, hóa đơn chi phí học tập, khám chữa bệnh để chứng minh nhu cầu cấp dưỡng.

Lưu bản sao ở nơi người kia không tiếp cận được, như email riêng mới tạo hoặc gửi người thân tin cậy.

Những sai lầm hay gặp

  • Chỉ xin ly hôn, không yêu cầu chia tài sản, rồi xin phong tỏa tài sản. Tài sản không phải đối tượng tranh chấp thì Tòa không có căn cứ chặn.
  • Chờ Tòa thụ lý xong mới nộp đơn yêu cầu. Khoảng thời gian chờ thụ lý chính là lúc tài sản dễ bị chuyển đi nhất. Hãy nộp cùng đơn khởi kiện theo khoản 2 Điều 111 BLTTDS.
  • Không chuẩn bị tiền bảo đảm. Tòa chỉ ra quyết định sau khi bảo đảm hoàn tất. Hết 48 giờ mà chưa có tiền thì mất lợi thế bất ngờ.
  • Có quyết định nhưng không nộp cho cơ quan đăng ký đất đai. Luật đã giao nghĩa vụ này cho đương sự (khoản 2 Điều 142 BLTTDS).
  • Ký đơn thuận tình khi nghi ngờ bên kia đang tẩu tán. Thủ tục thuận tình không có biện pháp khẩn cấp tạm thời.
  • Rút tin báo bạo lực vì được xin lỗi. Biên bản và quyết định xử phạt là chứng cứ mạnh nhất cho cả căn cứ ly hôn lẫn yêu cầu cấm tiếp xúc sau này.

Câu hỏi thường gặp

Được, nhưng tại Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực, mỗi lần không quá 03 ngày (Điều 25 Luật PCBLGĐ). Lệnh cấm tiếp xúc đến 04 tháng của Tòa án chỉ có khi đã có vụ án dân sự giữa hai người (Điều 26 Luật PCBLGĐ).

Có. Phong tỏa tài khoản thuộc khoản 10 Điều 114 BLTTDS nên người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm theo khoản 1 Điều 136 BLTTDS, thường không thấp hơn 20% giá trị tạm tính của khoản tiền bị phong tỏa (khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 02/2020). Tòa chỉ phong tỏa phần giá trị tương đương nghĩa vụ (khoản 4 Điều 133 BLTTDS).

Nếu nộp cùng đơn khởi kiện, trong 48 giờ kể từ khi nhận đơn yêu cầu (khoản 3 Điều 133 BLTTDS). Nếu vụ án đã thụ lý, trong 03 ngày làm việc (điểm a khoản 2 Điều 133 BLTTDS). Với các biện pháp phải bảo đảm, Tòa chỉ ra quyết định sau khi người yêu cầu hoàn tất biện pháp bảo đảm (khoản 2, khoản 3 Điều 133; khoản 1 Điều 136 BLTTDS).

Nếu đó là bất động sản chung mà không có văn bản thỏa thuận của vợ chồng, bạn có thể yêu cầu tuyên giao dịch vô hiệu (khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 26 Luật HNGĐ). Người mua ngay tình có thể vẫn được bảo vệ. Khi đó, hành vi tự ý bán tài sản chung là yếu tố lỗi Tòa xem xét khi chia tài sản (điểm d khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ), và bạn cần yêu cầu Tòa tính cả khoản tiền bán nhà vào khối tài sản chung.

Có, khi cần bảo vệ tính mạng người bị bạo lực (khoản 2 Điều 26 Luật PCBLGĐ; Điều 135 BLTTDS). Dù vậy, nên chủ động yêu cầu và trình bày rõ nguy cơ, thay vì trông chờ Tòa tự phát hiện.
Các vấn đề hôn nhân và gia đình cần được xử lý thấu đáo cả về pháp lý lẫn sự riêng tư. Luật Quốc Ấn tiếp nhận đánh giá sơ bộ và tư vấn hướng giải quyết phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của bạn.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698