Bảo hiểm nhân thọ khi ly hôn được chia như tài sản chung
Trong danh sách tài sản mà các cặp vợ chồng liệt kê khi ly hôn, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường vắng mặt. Không có sổ đỏ, không có số dư hiện trên ứng dụng ngân hàng, chỉ có một bộ hồ sơ nằm trong ngăn kéo và khoản phí trừ tự động mỗi năm. Nhưng sau mười năm đóng phí, giá trị hoàn lại của một hợp đồng có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Bỏ sót nó khi ly hôn đồng nghĩa với việc một bên mặc nhiên giữ trọn khoản tiền mà cả hai đã cùng bỏ ra. Còn một rủi ro lặng lẽ hơn: tên người thụ hưởng trên hợp đồng không tự thay đổi khi bản án ly hôn có hiệu lực.
Tóm tắt
- Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là quyền tài sản (Điều 105, Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015). Phí đóng bằng thu nhập trong thời kỳ hôn nhân thì giá trị của hợp đồng là tài sản chung (khoản 1, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
- Bên mua bảo hiểm là người giao kết hợp đồng và đóng phí; người được bảo hiểm là người có tính mạng, sức khỏe được bảo hiểm; người thụ hưởng là người được chỉ định nhận tiền bảo hiểm (khoản 24, 25, 26 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022). Ba vai này có thể là ba người khác nhau, và chính sự khác nhau đó tạo ra tranh chấp.
- Theo chúng tôi, cách chia hợp lý là giao hợp đồng cho một bên tiếp tục, bên đó thanh toán cho bên kia phần giá trị hoàn lại tương ứng tại thời điểm giải quyết. Chấm dứt hợp đồng để chia tiền thường gây thiệt hại cho cả hai.
- Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cần sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm và của doanh nghiệp bảo hiểm; bên nhận phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm (Điều 28 Luật KDBH).
- Thay đổi người thụ hưởng phải có sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm và thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm (khoản 3 Điều 41 Luật KDBH). Bản án ly hôn không tự động thay đổi người thụ hưởng.
Ba vai trò trong một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 (văn bản hợp nhất 31/VBHN-VPQH năm 2026, sau đây gọi là Luật KDBH) phân biệt:
| Vai | Định nghĩa | Ý nghĩa khi ly hôn |
| Bên mua bảo hiểm | Người giao kết hợp đồng và đóng phí (khoản 24 Điều 4) | Người nắm quyền với hợp đồng: chấm dứt, nhận giá trị hoàn lại, chuyển giao, đổi người thụ hưởng |
| Người được bảo hiểm | Người có tính mạng, sức khỏe được bảo hiểm (khoản 25 Điều 4) | Phải đồng ý khi chuyển giao hợp đồng, khi chỉ định, thay đổi người thụ hưởng |
| Người thụ hưởng | Người được chỉ định nhận tiền bảo hiểm (khoản 26 Điều 4) | Nhận tiền khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, kể cả khi đã là vợ, chồng cũ |
Cấu trúc hay gặp trong các gia đình: người vợ là bên mua bảo hiểm, người chồng là người được bảo hiểm, người vợ là người thụ hưởng; hoặc một trong hai vợ chồng là bên mua cho hợp đồng mà người được bảo hiểm là con.
Hợp đồng bảo hiểm là tài sản chung hay riêng
Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 (sau đây gọi là BLDS 2015) xác định tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản (khoản 1 Điều 105), quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền (Điều 115). Quyền của bên mua bảo hiểm đối với hợp đồng, nhất là quyền nhận giá trị hoàn lại, là một quyền tài sản như vậy.
Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 (văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH năm 2025, sau đây gọi là Luật HNGĐ) xác định tính chất theo nguồn tiền:
- Hợp đồng giao kết trong thời kỳ hôn nhân, phí đóng bằng thu nhập của vợ chồng. Giá trị hợp đồng là tài sản chung (khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ), bất kể ai đứng tên bên mua bảo hiểm. Không chứng minh được nguồn tiền riêng thì coi là tài sản chung (khoản 3 Điều 33).
- Hợp đồng giao kết trước khi kết hôn, tiếp tục đóng phí bằng tiền chung. Hợp đồng là tài sản riêng của bên mua (khoản 1 Điều 43 Luật HNGĐ), nhưng bên kia được thanh toán phần giá trị đã đóng góp vào khối tài sản đó (đoạn 2 khoản 4 Điều 59 Luật HNGĐ). Thực tiễn, phần đóng góp thường được tính theo số phí đã đóng trong thời kỳ hôn nhân.
- Hợp đồng đóng phí bằng tài sản riêng, ví dụ bằng tiền được thừa kế riêng, là tài sản riêng (khoản 2 Điều 43 Luật HNGĐ), nếu chứng minh được nguồn tiền.
Phân tích chung về tài sản chung, tài sản riêng xem tại bài tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng.
Chia theo giá trị hoàn lại hay theo phí đã đóng
Đây là câu hỏi gây tranh luận nhiều nhất khi chia hợp đồng bảo hiểm.
Phí đã đóng là con số dễ chứng minh, nhưng không phản ánh giá trị thật. Trong những năm đầu, giá trị hoàn lại thường thấp hơn nhiều so với phí đã đóng vì chi phí phát hành, hoa hồng đã khấu trừ. Ngược lại, hợp đồng lâu năm hoặc hợp đồng liên kết đầu tư có thể có giá trị cao hơn phí đã đóng.
Giá trị hoàn lại là số tiền bên mua bảo hiểm thực sự nhận được nếu hợp đồng chấm dứt tại thời điểm đó; chẳng hạn khi hợp đồng bị chấm dứt vì không đóng phí, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả giá trị hoàn lại cho bên mua (khoản 3 Điều 27 Luật KDBH). Đó là giá trị thực của quyền tài sản.
Theo chúng tôi, căn cứ đúng là giá trị hoàn lại tại thời điểm Tòa án giải quyết, vì nguyên tắc chia theo giá trị (khoản 3 Điều 59 Luật HNGĐ) đòi hỏi giá trị thực của tài sản chứ không phải chi phí đã bỏ ra. Thực tiễn xét xử chưa thống nhất về căn cứ này, nhất là khi hồ sơ không có xác nhận giá trị hoàn lại. Vì vậy bên muốn chia theo giá trị hoàn lại nên đề nghị Tòa án yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp văn bản xác nhận giá trị hoàn lại tại thời điểm gần nhất với phiên tòa.
Ví dụ giả định: hợp đồng do người chồng đứng tên bên mua, đã đóng phí 8 năm bằng thu nhập chung, tổng phí 240 triệu đồng, giá trị hoàn lại xác nhận là 190 triệu đồng. Nếu giao hợp đồng cho người chồng tiếp tục, người chồng thanh toán cho người vợ 95 triệu đồng (một nửa giá trị hoàn lại), chứ không phải 120 triệu đồng (một nửa phí đã đóng). Tỷ lệ chia còn có thể điều chỉnh theo các yếu tố tại khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ, được phân tích tại bài chia tài sản khi ly hôn.
Ba phương án xử lý bảo hiểm nhân thọ khi ly hôn
| Phương án | Cách làm | Ưu điểm | Rủi ro |
| Giao cho một bên tiếp tục, thanh toán chênh lệch | Bên giữ hợp đồng trả cho bên kia phần giá trị hoàn lại | Giữ quyền lợi bảo hiểm, không mất phí đã đóng | Bên giữ phải có tiền thanh toán ngay |
| Chấm dứt hợp đồng, chia giá trị hoàn lại | Bên mua yêu cầu chấm dứt, nhận giá trị hoàn lại rồi chia | Đơn giản, dứt điểm | Mất quyền lợi bảo hiểm; giá trị hoàn lại thấp hơn phí đã đóng ở những năm đầu |
| Chuyển giao hợp đồng cho bên kia | Bên mua chuyển giao quyền bên mua cho người kia theo Điều 28 Luật KDBH | Phù hợp khi người được bảo hiểm là bên nhận | Cần đủ điều kiện chuyển giao |
Theo chúng tôi, với hợp đồng đã đóng nhiều năm, phương án thứ nhất thường có lợi nhất cho cả hai. Phương án chấm dứt chỉ nên chọn khi không bên nào muốn hoặc đủ khả năng tiếp tục đóng phí.
Điều kiện chuyển giao hợp đồng
Điều 28 Luật KDBH đặt ba điều kiện cho việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm nhân thọ:
- Người được bảo hiểm hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đồng ý bằng văn bản (khoản 1).
- Bên nhận chuyển giao phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm (khoản 2). Theo khoản 1 Điều 34 Luật KDBH, bên mua có quyền lợi có thể được bảo hiểm với bản thân mình; với vợ, chồng, cha, mẹ, con; với anh chị em ruột hoặc người có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
- Bên mua thông báo bằng văn bản và doanh nghiệp bảo hiểm đồng ý bằng văn bản (khoản 3).
Hệ quả thực tế: chuyển hợp đồng cho chính người được bảo hiểm (người chồng nhận lại hợp đồng bảo hiểm cho tính mạng của mình) hoặc cho cha, mẹ của người được bảo hiểm là con chung đều đáp ứng điều kiện quyền lợi có thể được bảo hiểm. Sau khi ly hôn, vợ, chồng cũ không còn là “vợ, chồng” theo điểm b khoản 1 Điều 34, nên việc chuyển giao một hợp đồng mà người được bảo hiểm là người kia cho chính vợ, chồng cũ có thể bị doanh nghiệp bảo hiểm từ chối. Theo chúng tôi, nên hoàn tất thủ tục chuyển giao ngay sau khi có thỏa thuận, và ghi rõ trong thỏa thuận chia tài sản nghĩa vụ phối hợp ký hồ sơ của mỗi bên.
Người thụ hưởng là vợ hoặc chồng cũ
Bản án ly hôn chấm dứt quan hệ vợ chồng nhưng không sửa hợp đồng bảo hiểm. Nếu hợp đồng vẫn ghi người thụ hưởng là vợ cũ, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền cho người vợ cũ theo hợp đồng.
Muốn thay đổi người thụ hưởng, bên mua bảo hiểm phải có sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm và thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm xác nhận vào hợp đồng hoặc văn bản đính kèm (khoản 3 Điều 41 Luật KDBH).
Hai tình huống cần phân biệt:
- Người chồng vừa là bên mua vừa là người được bảo hiểm, người thụ hưởng là vợ. Người chồng tự mình thay đổi được người thụ hưởng sau ly hôn, chỉ cần thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm.
- Người vợ là bên mua, người chồng là người được bảo hiểm, người thụ hưởng là vợ. Quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ xét tại thời điểm giao kết (khoản 2 Điều 34 Luật KDBH), nên hợp đồng vẫn hiệu lực sau ly hôn. Người chồng cũ không thể tự chấm dứt hợp đồng hay đổi người thụ hưởng vì không phải bên mua. Cách giải quyết là đưa hợp đồng vào phần chia tài sản, thỏa thuận chuyển giao hợp đồng cho người chồng (người được bảo hiểm) và thanh toán giá trị cho người vợ.
Hợp đồng bảo hiểm cho con
Hợp đồng mà người được bảo hiểm là con chung, bên mua là cha hoặc mẹ, thường được các bên coi là “của con”. Về pháp lý, quyền tài sản thuộc về bên mua, và nếu phí đóng bằng tiền chung thì giá trị hoàn lại là tài sản chung của vợ chồng.
Thực tiễn có hai cách làm phổ biến:
- Thỏa thuận không chia giá trị hợp đồng, giao cho người trực tiếp nuôi con làm bên mua tiếp tục đóng phí (chuyển giao nếu cần), có thể tính một phần phí tiếp theo vào mức cấp dưỡng.
- Giữ nguyên bên mua là người không trực tiếp nuôi con, ghi nhận việc tiếp tục đóng phí là một phần nghĩa vụ đối với con.
Theo chúng tôi, cách thứ nhất ít rủi ro hơn vì quyền quyết định với hợp đồng nằm ở người đang chăm sóc con. Việc giao con, mức cấp dưỡng xem tại bài quyền nuôi con khi ly hôn và bài cấp dưỡng nuôi con.
Rút giá trị hợp đồng trước khi ly hôn
Một bên đứng tên bên mua bảo hiểm có thể chấm dứt hợp đồng, nhận giá trị hoàn lại hoặc vay theo hợp đồng ngay trước khi nộp đơn ly hôn. Số tiền này vẫn là tài sản chung và vẫn phải được đưa vào khối tài sản chia. Người bị thiệt có thể yêu cầu Tòa án tính số tiền đã rút vào phần tài sản của bên rút.
Khi có nguy cơ rõ ràng, có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời như cấm thay đổi hiện trạng tài sản tranh chấp. Điều kiện và thủ tục xem tại bài biện pháp khẩn cấp tạm thời khi ly hôn.
Khi hợp đồng bị bỏ sót lúc ly hôn
Hợp đồng chưa được Tòa án giải quyết trong vụ ly hôn vẫn là tài sản chung chưa chia. Người kia có thể khởi kiện chia tài sản chung sau ly hôn, như trình bày tại bài chia tài sản sau ly hôn. Theo chúng tôi, nên làm sớm: giá trị hoàn lại thay đổi theo thời gian, và người đang giữ hợp đồng có thể chấm dứt hoặc thay đổi người thụ hưởng bất cứ lúc nào.
Trường hợp một bên vợ, chồng qua đời trong thời kỳ hôn nhân thì tiền bảo hiểm trả cho người thụ hưởng theo hợp đồng; cách xác định tài sản chung và di sản trong trường hợp đó xem tại bài chia tài sản khi vợ hoặc chồng chết.
Câu hỏi thường gặp
Bảo hiểm nhân thọ khi ly hôn có bị chia không?
Chia theo phí đã đóng hay giá trị hoàn lại?
Ly hôn rồi vợ cũ vẫn là người thụ hưởng thì sao?
Hợp đồng không tự thay đổi. Bên mua bảo hiểm phải làm thủ tục thay đổi người thụ hưởng, có sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm và thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm (khoản 3 Điều 41 Luật KDBH).
Có chuyển hợp đồng bảo hiểm từ vợ sang chồng được không?
Bảo hiểm mua trước khi cưới có bị chia không?
Một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được xử lý đúng khi ly hôn cần cả thỏa thuận chia tài sản lẫn hồ sơ với doanh nghiệp bảo hiểm khớp nhau. Khi làm việc với khách hàng, luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi thường rà soát ba vai trong từng hợp đồng, đề xuất phương án và soạn điều khoản chuyển giao, thay đổi người thụ hưởng ngay trong thỏa thuận ly hôn.
Dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi hỗ trợ xác định giá trị các hợp đồng bảo hiểm, tài khoản đầu tư và tài sản tài chính khác trong vụ ly hôn, đại diện tranh chấp tại Tòa án và theo hồ sơ đến khi thủ tục với doanh nghiệp bảo hiểm hoàn tất.
