Công chứng di chúc, chứng thực di chúc và lập di chúc tại nhà
Ba khách hàng đến văn phòng chúng tôi trong cùng một tuần, cả ba đều muốn lập di chúc.
- Người thứ nhất, 58 tuổi, khỏe mạnh. Ông muốn để căn hộ cho con gái và hỏi có cần công chứng không, hay tự viết tay là đủ.
- Người thứ hai, 84 tuổi. Bà đã bị tai biến nhẹ, tay phải yếu, ký không vững. Các con muốn bà lập di chúc nhưng sợ “sau này anh em lại cãi”.
- Người thứ ba đang nằm viện điều trị ung thư giai đoạn cuối. Gia đình hỏi công chứng viên có đến bệnh viện được không.
Ba trường hợp này cho ba câu trả lời khác nhau về sự cần thiết của công chứng. Với người thứ hai, câu trả lời gần như là bắt buộc. Bài viết này giải thích khi nào nên, khi nào phải công chứng di chúc, thủ tục tại tổ chức hành nghề công chứng theo Luật Công chứng 2024 (Luật CC), cách mời công chứng viên đến nhà hoặc bệnh viện, và sự khác nhau giữa công chứng với chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
Tóm tắt
- Công chứng di chúc không bắt buộc với mọi người. Pháp luật chỉ bắt buộc di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực khi người lập không biết chữ hoặc bị hạn chế về thể chất (khoản 3 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, BLDS).
- Người lập di chúc phải tự mình ký, hoặc ký và điểm chỉ, vào di chúc được công chứng. Người lập không được ủy quyền cho người khác (khoản 1 Điều 58 Luật CC).
- Khi người lập không đọc, không nghe được, hoặc không ký và không điểm chỉ được, việc công chứng phải có người làm chứng (khoản 2 Điều 49 Luật CC).
- Công chứng di chúc được thực hiện ngoài trụ sở trong các trường hợp lập di chúc tại chỗ ở, không thể đi lại vì sức khỏe, hoặc đang điều trị nội trú (khoản 2 Điều 46 Luật CC).
- Di chúc có thể được công chứng tại tổ chức công chứng ở bất kỳ tỉnh nào, kể cả khi di sản là bất động sản ở tỉnh khác (Điều 44 Luật CC).
- Công chứng viên từ chối công chứng nếu người lập có dấu hiệu mất năng lực nhận thức, hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép mà không làm rõ được (khoản 2 Điều 58 Luật CC).
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cũng có thẩm quyền chứng thực di chúc, không phụ thuộc nơi cư trú của người lập (khoản 1, khoản 5 Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP).
Có bắt buộc công chứng di chúc không
BLDS thừa nhận bốn loại di chúc bằng văn bản: không có người làm chứng, có người làm chứng, có công chứng và có chứng thực (Điều 628 BLDS). Một bản di chúc tự viết tay, ký tên, đáp ứng Điều 631 và Điều 633 BLDS vẫn hợp pháp mà không cần công chứng.
Công chứng chỉ bắt buộc trong một trường hợp. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất, hoặc của người không biết chữ, phải do người làm chứng lập thành văn bản và phải có công chứng hoặc chứng thực (khoản 3 Điều 630 BLDS). Người bà 84 tuổi tay yếu trong ví dụ trên thuộc trường hợp này nếu bà không tự viết được.
Ngoài trường hợp đó, công chứng là lựa chọn. Chúng tôi vẫn khuyên công chứng khi có một trong các dấu hiệu sau:
- Di sản là nhà đất có giá trị lớn.
- Người lập đã cao tuổi hoặc có bệnh lý ảnh hưởng nhận thức.
- Gia đình có nhiều con, nhiều cuộc hôn nhân, hoặc có người dự kiến bị phân chia ít hơn.
- Di chúc có nội dung truất quyền hoặc định đoạt khác hẳn chia theo pháp luật.
Lý do là giá trị chứng cứ. Những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu (khoản 3 Điều 6 Luật CC). Lời chứng của công chứng viên xác nhận người lập tự nguyện, có năng lực hành vi, và chữ ký đúng là của người lập (khoản 1 Điều 48 Luật CC). Người muốn phản đối một di chúc công chứng phải tự chứng minh các tình tiết này không đúng. Gánh nặng này nặng hơn rất nhiều so với phản đối một di chúc viết tay. Phân tích chi tiết ở bài di chúc vô hiệu.
Các điều kiện chung để di chúc hợp pháp, áp dụng cho cả di chúc công chứng, được trình bày tại bài di chúc hợp pháp.
Hồ sơ công chứng di chúc
Hồ sơ theo khoản 1 Điều 42 Luật CC gồm:
Giấy tờ | Ghi chú |
| Dự thảo di chúc, nếu người lập đã soạn sẵn | Không có thì công chứng viên soạn theo yêu cầu (Điều 43 Luật CC) |
| Thẻ căn cước hoặc hộ chiếu của người lập | Tổ chức công chứng có thể khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư |
| Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản phải đăng ký | Định đoạt tài sản chung vợ chồng thì nên kèm giấy chứng nhận kết hôn để xác định phần của người lập |
| Giấy tờ khác liên quan | Ví dụ giấy tờ chứng minh tài sản riêng, giấy xác nhận tình trạng sức khỏe nếu cần |
Khi tính mạng người lập di chúc bị cái chết đe dọa, người lập không phải xuất trình đủ giấy tờ, nhưng phải ghi rõ điều này trong văn bản công chứng. Nếu sau 03 tháng người lập không còn trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, người lập phải nộp đủ giấy tờ. Không nộp đủ thì văn bản công chứng di chúc không có hiệu lực (khoản 3 Điều 58 Luật CC).
Quy định này song song với cơ chế di chúc miệng tại Điều 629 BLDS. Nó cho thấy pháp luật cố gắng tạo một lối đi công chứng nhanh cho người đang nguy kịch. Xem thêm bài di chúc miệng.
Mô tả tài sản trong di chúc nên đầy đủ số thửa, số tờ bản đồ, địa chỉ, số giấy chứng nhận. Hướng dẫn cách ghi có tại bài mẫu di chúc.
Trình tự tại tổ chức hành nghề công chứng
- Nộp hồ sơ. Hồ sơ được nộp trực tiếp, trực tuyến hoặc qua bưu chính (khoản 1 Điều 42 Luật CC). Người lập nên trực tiếp trao đổi với công chứng viên về nội dung, không để người được hưởng nói thay.
- Công chứng viên kiểm tra năng lực và sự tự nguyện. Nếu nhận thấy người lập có dấu hiệu mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, hoặc có căn cứ cho rằng việc lập bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, công chứng viên đề nghị làm rõ. Không làm rõ được thì từ chối công chứng (khoản 2 Điều 58 Luật CC). Công chứng viên có thể tiến hành xác minh, hoặc yêu cầu giám định theo đề nghị của người yêu cầu (khoản 4 Điều 42 Luật CC).
- Kiểm tra nội dung. Điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, hoặc định đoạt tài sản không phù hợp thì công chứng viên chỉ ra để sửa. Người lập không sửa thì bị từ chối công chứng (khoản 5 Điều 42 Luật CC).
- Đọc lại và ký. Người lập tự đọc, hoặc nghe công chứng viên đọc, sau đó ký vào từng trang trước mặt công chứng viên (khoản 6, 7 Điều 42 Luật CC). Với di chúc, việc điểm chỉ có thể thực hiện đồng thời với việc ký (điểm a khoản 4 Điều 50 Luật CC). Chúng tôi khuyên người lập cao tuổi nên vừa ký vừa điểm chỉ, để hạn chế tranh chấp về chữ ký.
- Công chứng viên ghi lời chứng, ký, đóng dấu. Văn bản có từ 02 trang được đánh số trang, có từ 02 tờ thì đóng dấu giáp lai (Điều 51 Luật CC).
Việc ký trước mặt công chứng viên phải được chụp ảnh và lưu trong hồ sơ công chứng (khoản 1 Điều 50 Luật CC). Hồ sơ di chúc định đoạt bất động sản được lưu ít nhất 30 năm (khoản 2 Điều 68 Luật CC). Đây là nguồn chứng cứ quan trọng nếu sau này có người cho rằng chữ ký bị giả mạo.
Người làm chứng và người phiên dịch
Việc công chứng phải có người làm chứng trong các trường hợp người lập không đọc được, không nghe được, hoặc không ký được và không điểm chỉ được (khoản 2 Điều 49 Luật CC). Người làm chứng do người lập mời. Không mời được thì công chứng viên chỉ định. Không chỉ định được thì công chứng viên từ chối công chứng.
Người làm chứng phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, và không có quyền, lợi ích hoặc nghĩa vụ liên quan đến việc công chứng. Đối chiếu với Điều 632 BLDS, người làm chứng còn không được là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập. Vì vậy con, cháu không nên làm chứng, kể cả trong trường hợp công chứng.
Người lập không thông thạo tiếng Việt, hoặc là người khuyết tật nhìn, khuyết tật nghe, nói, thì phải có người phiên dịch (khoản 3 Điều 49 Luật CC). Di chúc lập bằng tiếng nước ngoài, khi công bố, phải được dịch ra tiếng Việt (điểm a khoản 3 Điều 45 Nghị định 104/2025/NĐ-CP). Xem thêm bài thừa kế có yếu tố nước ngoài.
Công chứng viên không được công chứng di chúc của người thân
Công chứng viên không được công chứng giao dịch liên quan đến tài sản, lợi ích của mình, hoặc của vợ, chồng, cha mẹ, con, anh chị em ruột, ông bà, cháu là con của con mình (điểm c khoản 1 Điều 9 Luật CC). Điều 637 BLDS còn quy định riêng cho di chúc: công chứng viên không được công chứng nếu họ là người thừa kế, có cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con là người thừa kế, hoặc có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc.
Công chứng di chúc tại nhà hoặc tại bệnh viện
Theo khoản 2 Điều 46 Luật CC, việc công chứng có thể thực hiện ngoài trụ sở trong các trường hợp:
- Lập di chúc tại chỗ ở theo quy định của BLDS. Điều 639 BLDS cho phép người lập yêu cầu công chứng viên đến chỗ ở của mình.
- Không thể đi lại được vì lý do sức khỏe; đang điều trị nội trú hoặc bị cách ly theo chỉ định của cơ sở y tế.
- Đang bị tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, hoặc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- Có lý do chính đáng khác theo quy định của Chính phủ.
Việc công chứng ngoài trụ sở phải được thực hiện tại địa điểm có địa chỉ cụ thể, phù hợp với lý do yêu cầu. Lời chứng phải ghi rõ lý do công chứng ngoài trụ sở (điểm e khoản 1 Điều 48 Luật CC). Người yêu cầu chịu chi phí công chứng ngoài trụ sở theo thỏa thuận với tổ chức công chứng (điểm b khoản 1 Điều 72 Luật CC).
Với người đang nằm viện, có hai lựa chọn song song:
Lựa chọn | Căn cứ | Ưu điểm | Lưu ý |
| Mời công chứng viên đến bệnh viện | Điểm b khoản 2 Điều 46 Luật CC; Điều 639 BLDS | Di chúc công chứng, giá trị chứng cứ cao nhất | Công chứng viên vẫn đánh giá năng lực nhận thức. Người bệnh quá yếu có thể bị từ chối |
| Di chúc có xác nhận của người phụ trách bệnh viện | Khoản 3 Điều 638 BLDS | Có giá trị như di chúc được công chứng, chứng thực; thủ tục nội bộ bệnh viện | Người xác nhận phải là người phụ trách bệnh viện, không phải bác sĩ điều trị |
Gia đình nên liên hệ cả hai kênh ngay khi tình trạng người bệnh chuyển nặng. Đợi đến khi người bệnh lơ mơ thì cả công chứng viên lẫn bệnh viện đều có thể từ chối.
Di chúc được công chứng ở đâu
Theo Điều 44 Luật CC, công chứng viên chỉ được công chứng giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Di chúc là ngoại lệ. Người sống ở Hà Nội có nhà ở Nghệ An vẫn có thể lập di chúc tại một văn phòng công chứng ở Hà Nội.
Công dân Việt Nam ở nước ngoài có thể lập di chúc tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam (khoản 1 Điều 73 Luật CC). Di chúc của công dân Việt Nam ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan đại diện cũng có giá trị như di chúc được công chứng (khoản 5 Điều 638 BLDS).
Gửi giữ di chúc tại tổ chức công chứng
Người lập có thể yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng lưu giữ di chúc (khoản 1 Điều 61 Luật CC). Công chứng viên niêm phong bản di chúc trước mặt người lập, rồi ghi giấy nhận lưu giữ. Giấy nhận phải có thông tin về tổ chức nhận lưu giữ, công chứng viên niêm phong và người lập di chúc.
Gửi giữ giải quyết hai rủi ro hay gặp:
- Bản gốc bị thất lạc, hoặc bị người không được hưởng hủy đi.
- Gia đình không biết có di chúc, hoặc không biết di chúc ở đâu.
Người lập nên cho ít nhất một người tin cậy biết về giấy nhận lưu giữ.
Khi người lập chết, người thừa kế yêu cầu tổ chức công chứng đang lưu giữ công bố di chúc theo Điều 45 Nghị định 104/2025/NĐ-CP. Công bố có thể qua cuộc họp công khai, hoặc qua việc gửi bản sao có xác nhận cho những người liên quan. Thủ tục chi tiết ở bài thủ tục khai nhận di sản thừa kế.
Phí nhận lưu giữ di chúc là một khoản trong phí công chứng (khoản 1 Điều 70 Luật CC).
Chứng thực di chúc tại Ủy ban nhân dân cấp xã
Di chúc cũng có thể được chứng thực. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền chứng thực di chúc (điểm g khoản 1 Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP, văn bản hợp nhất năm 2026). Việc chứng thực di chúc không phụ thuộc nơi cư trú của người yêu cầu (điểm c khoản 5 Điều 5 Nghị định 23/2015). Nghị định 23/2015 có mẫu lời chứng riêng cho chứng thực di chúc, kể cả chứng thực tại Trung tâm Phục vụ hành chính công.
Tiêu chí | Công chứng di chúc | Chứng thực di chúc |
| Người thực hiện | Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng | Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã |
| Thực hiện ngoài trụ sở | Có, theo Điều 46 Luật CC | Có, theo quy định về chứng thực |
| Soạn thảo nội dung | Công chứng viên có thể soạn theo yêu cầu | Người lập thường tự chuẩn bị |
| Gửi giữ | Có thể gửi giữ tại tổ chức công chứng (Điều 61 Luật CC) | Không có cơ chế gửi giữ tương đương |
| Giá trị theo BLDS | Di chúc bằng văn bản có công chứng | Di chúc bằng văn bản có chứng thực |
Về mặt pháp lý, cả hai đều thỏa mãn yêu cầu “có công chứng hoặc chứng thực” tại khoản 3 Điều 630 BLDS. Khác biệt nằm ở chiều sâu kiểm tra nội dung, khả năng soạn thảo, và cơ chế gửi giữ. Với di sản giá trị lớn, công chứng vẫn là lựa chọn được khuyến nghị.
Sửa đổi, thay thế di chúc đã công chứng
Người lập có thể yêu cầu công chứng viên của bất kỳ tổ chức công chứng nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc. Nếu di chúc trước đang được lưu giữ tại một tổ chức công chứng, người lập phải thông báo cho tổ chức đó (khoản 4 Điều 58 Luật CC). Cách làm để không để lại nhiều bản mâu thuẫn được trình bày tại bài hủy bỏ di chúc.
Câu hỏi thường gặp
Di chúc có cần công chứng không?
Có thể nhờ người khác đi công chứng di chúc thay không?
Công chứng viên có đến nhà để công chứng di chúc không?
Có. Luật CC cho phép công chứng ngoài trụ sở khi lập di chúc tại chỗ ở, khi người lập không đi lại được vì sức khỏe, hoặc khi đang điều trị nội trú (khoản 2 Điều 46 Luật CC). Người yêu cầu chịu chi phí đi lại theo thỏa thuận.
Nhà ở tỉnh khác có công chứng di chúc tại nơi mình sống được không?
Công chứng viên có từ chối công chứng di chúc của người già không?
Tuổi tác không phải là lý do từ chối. Công chứng viên chỉ từ chối khi có dấu hiệu người lập không đủ năng lực nhận thức, hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mà không làm rõ được (khoản 2 Điều 58 Luật CC). Với người cao tuổi, giấy khám chuyên khoa về nhận thức gần ngày lập giúp quá trình thuận lợi hơn.
Chứng thực di chúc ở xã có giá trị như công chứng không?
Chuẩn bị trước buổi công chứng
Một buổi công chứng di chúc thuận lợi thường bắt đầu từ trước đó vài ngày. Người lập xác định rõ phần tài sản của mình, nhất là khi có tài sản chung vợ chồng. Người lập tự quyết định nội dung, chuẩn bị đủ giấy tờ tài sản. Với người cao tuổi, nên có kết luận khám nhận thức gần ngày lập. Người được hưởng không nên có mặt trong lúc người lập trao đổi với công chứng viên.
Đội ngũ luật sư thừa kế của chúng tôi soạn và rà soát nội dung di chúc, tính trước phần bảo vệ theo Điều 644 BLDS, và phối hợp với tổ chức công chứng để công chứng tại văn phòng, tại nhà hoặc tại bệnh viện. Với các gia đình có khối tài sản lớn, dịch vụ luật sư riêng giúp lập kế hoạch tài sản, trong đó di chúc là một phần.
