Ly hôn khi vợ hoặc chồng bỏ đi biệt tích hoặc đang chấp hành án phạt tù

Đơn khởi kiện ly hôn phải ghi nơi cư trú của bị đơn. Với người có vợ hoặc chồng bỏ đi nhiều năm, dòng này thường là chỗ cả hồ sơ dừng lại: không ghi được địa chỉ thì sợ bị trả đơn, ghi địa chỉ cũ thì lo Tòa không tống đạt được. Thực ra pháp luật đã có lối ra cho cả hai tình huống. Câu hỏi quyết định là người kia đang cố tình lánh mặt, hay đã thực sự biệt tích không còn tin tức. Hai tình huống đó đi hai con đường khác nhau, mất thời gian khác nhau, và chọn nhầm có thể tốn thêm cả năm.

Tóm tắt

  • Biết nơi cư trú cuối cùng, người kia bỏ đi không báo địa chỉ mới: khởi kiện ly hôn bình thường. Tòa không trả lại đơn mà xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ và giải quyết theo thủ tục chung (đoạn 2 điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Bị đơn triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt thì Tòa xét xử vắng mặt (điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS).
  • Biệt tích từ 02 năm liền trở lên, không có tin tức xác thực còn sống hay đã chết: yêu cầu Tòa tuyên bố mất tích (khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015). Sau đó yêu cầu ly hôn thì Tòa giải quyết cho ly hôn (khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
  • Thủ tục tuyên bố mất tích có thời gian thông báo tìm kiếm 04 tháng, đăng báo trung ương và phát sóng; chi phí đăng, phát do người yêu cầu chịu (khoản 2 Điều 385, khoản 2 Điều 388 BLTTDS).
  • Người bị tuyên bố mất tích trở về thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực (khoản 3 Điều 70 BLDS).
  • Vợ hoặc chồng đang chấp hành án phạt tù vẫn ly hôn được; vụ án không tiến hành hòa giải được vì lý do chính đáng (khoản 2 Điều 207 BLTTDS), Tòa có thể ủy thác lấy lời khai (Điều 105 BLTTDS). Việc ly hôn không ủy quyền cho người khác được (khoản 4 Điều 85 BLTTDS).
  • Người ở nước ngoài thì đi theo thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Ba tình huống, ba hướng giải quyết

Tình huống

Hướng giải quyết

Thời gian thường gặp

Căn cứ chính

Bỏ đi, không báo địa chỉ mới, nhưng vẫn có thể còn liên lạc với người khácKhởi kiện ly hôn đơn phương; Tòa xác định cố tình giấu địa chỉ, niêm yết văn bản tố tụng, xét xử vắng mặtNhư vụ ly hôn đơn phương thông thườngĐiều 192, 177, 179, 227 BLTTDS; khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ
Biệt tích từ 02 năm liền trở lên, không ai có tin tứcYêu cầu tuyên bố mất tích, sau đó yêu cầu ly hônÍt nhất khoảng 6 tháng cho riêng thủ tục tuyên bố mất tíchĐiều 68 BLDS; Điều 387 đến 389 BLTTDS; khoản 2 Điều 56 Luật HNGĐ
Đang chấp hành án phạt tù, đang bị tạm giamKhởi kiện ly hôn; văn bản tố tụng gửi qua trại giam; ủy thác lấy lời khaiNhư vụ ly hôn đơn phương, có thể kéo dài do ủy thácĐiều 85, 105, 207, 228 BLTTDS

Người đang ở nước ngoài và giấu địa chỉ là một trường hợp riêng, phụ thuộc vào thủ tục tống đạt ra nước ngoài; xem bài ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Tình huống thứ nhất: người kia bỏ đi, không rõ đang ở đâu

Nộp đơn ở đâu và ghi địa chỉ thế nào

Không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết (điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, văn bản hợp nhất 21/VBHN-VPQH năm 2026, sau đây gọi là BLTTDS). Tòa sơ thẩm là Tòa án nhân dân khu vực (Điều 35 BLTTDS).

Trong đơn, ghi địa chỉ cuối cùng mà mình biết, kèm tài liệu chứng minh: giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu cũ hoặc thông tin cư trú trước đây, tin nhắn, lời xác nhận của người thân hai bên về thời điểm người đó bỏ đi. Người khởi kiện không tự xin được giấy xác nhận cư trú của người khác, nên có thể đề nghị Tòa thu thập; cách làm đơn đề nghị được trình bày tại bài thủ tục ly hôn.

Cố tình giấu địa chỉ: Tòa vẫn thụ lý và giải quyết

BLTTDS có quy định riêng cho tình huống này. Nếu người khởi kiện đã ghi đầy đủ, đúng địa chỉ của người bị kiện, nhưng người bị kiện không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới theo pháp luật về cư trú, làm cho người khởi kiện không biết được nhằm che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ, thì Thẩm phán không trả lại đơn mà xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung (đoạn 2 điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS).

Tiếp theo là chuỗi thủ tục tống đạt:

  1. Người tống đạt đến địa chỉ cuối cùng. Người nhận vắng mặt, không rõ thời điểm trở về hoặc địa chỉ mới thì lập biên bản có xác nhận của tổ dân phố hoặc Công an cấp xã, đồng thời niêm yết công khai (đoạn 2 khoản 5 Điều 177 BLTTDS).
  2. Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng, bản sao tại nơi cư trú cuối cùng, có biên bản ghi ngày niêm yết (Điều 179 BLTTDS).
  3. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì vụ án không tiến hành hòa giải được (khoản 1 Điều 207 BLTTDS).
  4. Tại phiên tòa, bị đơn không có yêu cầu phản tố, vắng mặt lần thứ hai mà không có người đại diện thì Tòa xét xử vắng mặt (điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS).

Về nội dung, Tòa vẫn phải xét căn cứ ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (sau đây gọi là Luật HNGĐ). Việc một bên bỏ đi nhiều năm, không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, không chăm lo cho con là tình tiết mạnh để chứng minh hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Cách chứng minh căn cứ ly hôn được trình bày tại bài ly hôn đơn phương.

Thực tiễn chưa thống nhất

Quy định về cố tình giấu địa chỉ được viết chung cho mọi vụ án dân sự. Thực tiễn, không phải Tòa nào cũng áp dụng nó cho vụ án ly hôn theo cùng một cách. Có quan điểm cho rằng khi xác minh thấy bị đơn đã rời địa phương từ trước khi thụ lý mà không ai biết ở đâu, việc tống đạt là không thể, và hướng dẫn người khởi kiện làm thủ tục thông báo tìm kiếm hoặc tuyên bố mất tích trước. Quan điểm khác cho rằng địa chỉ khi đăng ký kết hôn hoặc nơi cư trú cuối cùng là đủ, người bỏ đi không báo cho vợ, chồng và chính quyền là cố tình giấu địa chỉ, Tòa tiếp tục giải quyết.

Vì vậy, hồ sơ nên chuẩn bị chứng cứ cho thấy bị đơn biết mình đang bị yêu cầu ly hôn hoặc chủ động cắt liên lạc: tin nhắn cuối cùng, việc người đó vẫn liên lạc với gia đình mình, vẫn đăng bài trên mạng xã hội, đã được báo về vụ kiện qua người thân. Những chứng cứ này giúp Tòa yên tâm xác định cố tình giấu địa chỉ, thay vì coi đây là trường hợp biệt tích.

Tình huống thứ hai: biệt tích nhiều năm, không ai có tin tức

Điều kiện tuyên bố mất tích

Tòa án có thể tuyên bố một người mất tích khi người đó biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết (khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự 2015, sau đây gọi là BLDS).

Thời hạn 02 năm tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó. Không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; không xác định được cả ngày, tháng thì tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo (khoản 1 Điều 68 BLDS). Vì vậy, chứng cứ về “tin tức cuối cùng” rất quan trọng: cuộc gọi, tin nhắn, lần chuyển tiền, lời kể của người cuối cùng gặp người đó.

Thủ tục tại Tòa án

Bước

Nội dung

Căn cứ

Nộp đơnTòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùngĐiểm b khoản 2 Điều 39 BLTTDS
Hồ sơĐơn yêu cầu; chứng cứ về việc biệt tích 02 năm liền và đã áp dụng đầy đủ biện pháp thông báo tìm kiếm; bản sao quyết định thông báo tìm kiếm trước đó nếu cóKhoản 2 Điều 387 BLTTDS
Thông báo tìm kiếmTrong 20 ngày kể từ ngày thụ lý, Tòa ra quyết định thông báo tìm kiếm; thông báo đăng trên một báo hằng ngày của trung ương ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có), phát trên đài phát thanh hoặc truyền hình trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếpKhoản 1, khoản 2 Điều 388; khoản 1 Điều 385 BLTTDS
Thời hạn thông báo04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầuKhoản 2 Điều 388 BLTTDS
Phiên họpTrong 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn thông báoKhoản 4 Điều 388 BLTTDS
Quyết địnhTuyên bố mất tích; có thể kèm quyết định về quản lý tài sảnĐiều 389 BLTTDS

Chi phí đăng báo, phát sóng do người yêu cầu chịu (khoản 2 Điều 385 BLTTDS); đây thường là khoản lớn nhất của cả thủ tục, lớn hơn nhiều so với lệ phí. Quyết định tuyên bố mất tích được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú cuối cùng để ghi chú hộ tịch (khoản 3 Điều 68 BLDS).

Nếu người kia mới biệt tích từ 06 tháng, chưa đủ 02 năm, có thể yêu cầu Tòa thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú (Điều 64 BLDS; Điều 381 BLTTDS). Thủ tục này chưa giải quyết được việc ly hôn, nhưng có hai ích lợi: tạo chứng cứ về việc đã áp dụng biện pháp tìm kiếm cho thủ tục tuyên bố mất tích sau này, và có thể kèm yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt.

Ly hôn sau khi đã có quyết định tuyên bố mất tích

Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn (khoản 2 Điều 68 BLDS; khoản 2 Điều 56 Luật HNGĐ). Khác với ly hôn đơn phương thông thường, người yêu cầu không phải chứng minh hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Quyết định tuyên bố mất tích đã có hiệu lực là căn cứ.

Nếu người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là còn sống, Tòa hủy quyết định tuyên bố mất tích, nhưng quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật (khoản 3 Điều 70 BLDS). Người yêu cầu ly hôn không phải lo hôn nhân “sống lại”.

Có người hỏi có nên chờ đến khi yêu cầu tuyên bố chết cho xong. Tuyên bố chết chỉ đặt ra sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực mà vẫn không có tin tức (điểm a khoản 1 Điều 71 BLDS), hoặc biệt tích 05 năm liền trở lên (điểm d). Khi đó hôn nhân chấm dứt theo ngày chết ghi trong quyết định (Điều 65 Luật HNGĐ). Con đường này chậm hơn nhiều, và chỉ nên cân nhắc khi còn vấn đề thừa kế cần giải quyết.

Tài sản và con khi người kia vắng mặt

Tài sản. Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì người đó tiếp tục quản lý khi Tòa áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt (điểm c khoản 1 Điều 65 BLDS). Trong vụ ly hôn, yêu cầu chia tài sản chung vẫn được giải quyết dù bị đơn vắng mặt; tài sản có giấy chứng nhận đứng tên bị đơn cần được định giá, xác minh như mọi vụ án. Nguyên tắc chia được trình bày tại bài chia tài sản khi ly hôn. Nếu có dấu hiệu người thân của bị đơn đang định đoạt tài sản chung, có thể đề nghị Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi ly hôn.

Con. Người đang trực tiếp nuôi con thường được giao tiếp tục nuôi. Các tiêu chí Tòa xem xét được trình bày tại bài quyền nuôi con khi ly hôn. Thực tiễn, yêu cầu cấp dưỡng với người vắng mặt vẫn có thể được Tòa tuyên, nhưng khó thi hành nếu người đó không có tài sản, thu nhập xác định được.

Một hệ quả ít người để ý: muốn đổi họ cho con sang họ của người đang nuôi, tờ khai cần ý kiến của cả cha và mẹ. Người vắng mặt không ký được thì thủ tục tại xã bị chặn lại; xem bài đổi họ cho con.

Tình huống thứ ba: vợ hoặc chồng đang chấp hành án phạt tù

Người đang chấp hành án phạt tù hoặc bị tạm giam không mất tư cách đương sự. Họ có địa chỉ xác định là cơ sở giam giữ, nên vụ án đi theo thủ tục ly hôn đơn phương thông thường, với vài điểm khác:

  • Không ủy quyền được. Việc ly hôn không được ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng thay (đoạn 2 khoản 4 Điều 85 BLTTDS), áp dụng cho cả nguyên đơn và bị đơn.
  • Hòa giải. Đương sự không thể tham gia hòa giải vì có lý do chính đáng thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được (khoản 2 Điều 207 BLTTDS).
  • Lấy lời khai. Tòa có thể ủy thác cho Tòa án khác lấy lời khai của đương sự (khoản 1 Điều 105 BLTTDS). Thực tiễn, ý kiến của người đang chấp hành án được ghi nhận qua bản tự khai gửi qua trại giam, kèm đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • Xét xử. Đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa vẫn tiến hành xét xử (khoản 1 Điều 228 BLTTDS).

Việc vợ hoặc chồng bị kết án không tự động là căn cứ ly hôn. Tòa vẫn đánh giá theo khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ: hành vi phạm tội gây tổn hại cho gia đình, thời gian chấp hành án dài, việc không thể thực hiện nghĩa vụ vợ chồng là những tình tiết được xem xét. Nếu người đang chấp hành án đồng ý ly hôn và hai bên thỏa thuận được về con, tài sản, Tòa có thể công nhận như ly hôn thuận tình trong vụ án.

Chi phí

Khoản

Mức

Căn cứ

Án phí sơ thẩm ly hôn300.000 đồng, cộng án phí có giá ngạch nếu chia tài sảnMục A.II.1.1 Danh mục án phí kèm Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
Lệ phí yêu cầu tuyên bố mất tích300.000 đồngMục B.I.1 Danh mục lệ phí kèm Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
Đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếmTheo giá của cơ quan báo chíKhoản 2 Điều 385 BLTTDS

Cách tính án phí khi có tài sản và ai nộp tạm ứng được trình bày tại bài án phí ly hôn.

Hồ sơ ly hôn vắng mặt thường không thua ở luật, mà thua ở chứng cứ về địa chỉ và về thời điểm người kia bỏ đi. Nếu bạn chưa chắc tình huống của mình thuộc con đường nào, nên trao đổi với luật sư hôn nhân và gia đình trước khi nộp đơn, vì chọn nhầm giữa khởi kiện ngay và tuyên bố mất tích trước có thể làm mất nhiều tháng.

Câu hỏi thường gặp

Được, theo con đường thứ nhất. Nộp đơn tại Tòa nơi người đó cư trú cuối cùng, ghi địa chỉ cuối cùng và đề nghị Tòa xác định bị đơn cố tình giấu địa chỉ (đoạn 2 điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS). Chưa đủ 02 năm thì chưa yêu cầu tuyên bố mất tích được.

Có. Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có yêu cầu phản tố, thì Tòa xét xử vắng mặt (điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS).

Riêng thời hạn thông báo tìm kiếm đã là 04 tháng, cộng thời gian thụ lý, ra quyết định thông báo, đăng báo và mở phiên họp. Trên thực tế, nên tính ít nhất khoảng 6 tháng trước khi có quyết định, chưa kể thời gian giải quyết ly hôn sau đó.

Quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực (khoản 3 Điều 70 BLDS). Hôn nhân mới của bạn không bị ảnh hưởng.
Không. Việc ly hôn không được ủy quyền tham gia tố tụng (khoản 4 Điều 85 BLTTDS). Người đang chấp hành án gửi bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt qua trại giam.

Mỗi tình huống bỏ đi có một dấu vết khác nhau, và chính dấu vết đó quyết định con đường pháp lý. Dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi có thể giúp bạn đánh giá chứng cứ về địa chỉ, chọn giữa khởi kiện ngay hay tuyên bố mất tích trước, và theo hồ sơ đến khi có bản án ly hôn.

Các vấn đề hôn nhân và gia đình cần được xử lý thấu đáo cả về pháp lý lẫn sự riêng tư. Luật Quốc Ấn tiếp nhận đánh giá sơ bộ và tư vấn hướng giải quyết phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của bạn.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698