Điều kiện để di chúc hợp pháp

Người cha lúc còn khỏe tự tay viết di chúc, ký tên, cất trong tủ. Ông mất đi, gia đình mở tủ thì thấy bản di chúc có ba trang giấy. Trang cuối có chữ ký, hai trang đầu không ký, không đánh số. Chỗ ghi tên người được hưởng căn nhà có vết sửa. Ai cũng tin đó là ý nguyện thật của ông. Dù vậy, người con không được nhắc tên vẫn có đủ căn cứ để yêu cầu Tòa án xem xét lại toàn bộ văn bản.

Ý chí của người lập là chưa đủ. Di chúc chỉ được thi hành khi đáp ứng đồng thời các điều kiện mà Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) đặt ra cho người lập, cho nội dung và cho hình thức. Bài viết này đi qua từng điều kiện theo cách một luật sư kiểm tra hồ sơ trước khi khách hàng ký. Kèm theo đó là những lỗi khiến một bản di chúc thật lòng vẫn trở thành đầu mối tranh chấp.

Tóm tắt

  • Di chúc hợp pháp phải đáp ứng hai nhóm điều kiện chung tại khoản 1 Điều 630 BLDS: (1) Người lập minh mẫn, sáng suốt khi lập và không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. (2) Nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức không trái quy định của luật.
  • Người từ đủ 18 tuổi có quyền lập di chúc. Người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi cũng được lập nếu cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý, và di chúc phải bằng văn bản (Điều 625, khoản 2 Điều 630 BLDS).
  • Công chứng hoặc chứng thực không bắt buộc với mọi di chúc. Có hai ngoại lệ phải công chứng hoặc chứng thực: người không biết chữ và người bị hạn chế về thể chất (khoản 3 Điều 630 BLDS).
  • Di chúc tự viết tay phải do chính người lập viết toàn bộ và ký (Điều 633 BLDS). Bản đánh máy, hoặc bản nhờ người khác viết, phải có ít nhất hai người làm chứng hợp lệ (Điều 634 BLDS).
  • Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập không được làm chứng (khoản 1 Điều 632 BLDS). Đây là lỗi phổ biến nhất ở di chúc lập tại nhà.
  • Di chúc hợp pháp chưa chắc đã có hiệu lực. Hiệu lực được xét tại thời điểm mở thừa kế theo Điều 643 BLDS. Phần cho người không thuộc diện bảo vệ cũng có thể bị điều chỉnh theo Điều 644 BLDS.

Di chúc hợp pháp được hiểu thế nào

Điều 624 BLDS định nghĩa di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Về bản chất, đây là giao dịch dân sự đơn phương. Tuy vậy, BLDS không để di chúc chịu chung các điều kiện giao dịch tại Điều 117. Bộ luật dành riêng Điều 630 cho di chúc hợp pháp, và đây là điều luật Tòa án đối chiếu đầu tiên khi có tranh chấp.

Điều 630 gồm năm khoản. Có thể chia thành hai lớp:

Lớp điều kiệnÁp dụng choCăn cứ
Điều kiện chung về người lập (minh mẫn, sáng suốt, tự nguyện)Mọi di chúcĐiểm a khoản 1 Điều 630 BLDS
Điều kiện chung về nội dung và hình thứcMọi di chúcĐiểm b khoản 1 Điều 630 BLDS
Văn bản, có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộNgười từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổiKhoản 2 Điều 630 BLDS
Người làm chứng lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thựcNgười không biết chữ, người bị hạn chế về thể chấtKhoản 3 Điều 630 BLDS
Hai người làm chứng, ghi chép ngay, xác nhận trong 05 ngày làm việcDi chúc miệngKhoản 5 Điều 630 BLDS

Khoản 4 Điều 630 thường bị đọc lướt nhưng có ý nghĩa thực tế lớn. Theo khoản này, di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện tại khoản 1. Khi di chúc chưa qua công chứng bị phản đối, người muốn bảo vệ nó gần như phải chứng minh lại toàn bộ hoàn cảnh lập: người lập có minh mẫn không, có ai tác động không, chữ ký có đúng là của người lập không. Với di chúc đã công chứng, phần lớn các dữ kiện này đã được công chứng viên kiểm tra và ghi nhận trong lời chứng.

Điều kiện về người lập di chúc

Độ tuổi

Khoản 1 Điều 625 BLDS trao quyền lập di chúc cho người thành niên có đủ điều kiện tại điểm a khoản 1 Điều 630. Người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi cũng được lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý (khoản 2 Điều 625). Với nhóm tuổi này, di chúc phải được lập thành văn bản; di chúc miệng của họ không được chấp nhận.

Cha mẹ chỉ đồng ý về việc lập di chúc. Họ không có quyền quyết định thay nội dung. Trong hồ sơ, sự đồng ý nên được thể hiện bằng chữ ký xác nhận của cha mẹ hoặc người giám hộ ngay trên di chúc, hoặc bằng một văn bản riêng đính kèm. Như vậy sau này không ai phải tranh cãi về việc đã có đồng ý hay chưa.

Minh mẫn, sáng suốt tại thời điểm lập

Đây là điều kiện bị tấn công nhiều nhất trong các vụ tranh chấp. Lý do là người lập di chúc thường lớn tuổi hoặc đang bệnh nặng.

Mốc đánh giá là thời điểm lập, không phải tình trạng sức khỏe nói chung của người lập. Một người 90 tuổi vẫn có thể lập di chúc hợp pháp. Ngược lại, một người 60 tuổi đang trong cơn sảng do biến chứng sau mổ thì không. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án xem xét hồ sơ bệnh án sát ngày lập, lời khai của người làm chứng, của công chứng viên và của nhân viên y tế. Nếu có video ghi lại buổi lập, Tòa án cũng xem xét.

Cần phân biệt hai tình trạng pháp lý:

  • Người đã bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22 BLDS: không thể tự lập di chúc, và người giám hộ cũng không được lập thay. Nếu người đó đã hồi phục, phải yêu cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố trước.
  • Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Điều 23 BLDS, hoặc người chưa bị tuyên bố gì nhưng có bệnh lý về trí nhớ: vẫn có thể lập di chúc vào thời điểm tỉnh táo. Rủi ro tranh chấp với nhóm này rất cao.

BLDS không bắt buộc phải có “giấy xác nhận minh mẫn”. Với khách hàng trên 75 tuổi hoặc đang điều trị bệnh mạn tính, chúng tôi vẫn khuyên khám chuyên khoa và lấy kết luận về tình trạng nhận thức trong vòng vài ngày trước khi lập. Chi phí rất nhỏ so với một vụ kiện kéo dài nhiều năm.

Tự nguyện, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Các khái niệm lừa dối, đe dọa, cưỡng ép được hiểu theo Điều 127 BLDS. Trong hồ sơ thừa kế, ít khi có bằng chứng trực tiếp về việc ép ký. Phổ biến hơn là các dấu hiệu gián tiếp mà Tòa án ghép lại với nhau:

  • Người được hưởng nhiều nhất tự soạn sẵn văn bản.
  • Người được hưởng có mặt suốt buổi lập, hoặc đưa người lập đi công chứng ở nơi xa nhà.
  • Người lập đang sống phụ thuộc hoàn toàn vào người được hưởng.
  • Nội dung di chúc đảo ngược hẳn những gì người lập nói với các con trước đó.

Muốn hạn chế rủi ro này, người lập nên tự mình trao đổi với luật sư hoặc công chứng viên, không có mặt người hưởng. Người lập cũng nên giải thích được vì sao chia như vậy. Ghi lý do vào di chúc không bắt buộc. Nhưng một câu ngắn như “con út là người trực tiếp chăm sóc tôi từ năm 2015” thường giúp Tòa án nhìn nhận ý chí của người lập rõ hơn rất nhiều.

Điều kiện về nội dung di chúc

Chỉ được định đoạt tài sản của chính mình

Điều 624 BLDS dùng cụm từ “tài sản của mình”. Vấn đề thực tế nằm ở tài sản chung.

Người có vợ hoặc chồng chỉ được định đoạt phần của mình trong khối tài sản chung. Bản di chúc ghi “để lại toàn bộ căn nhà cho con trai” trong khi căn nhà là tài sản chung vợ chồng thì phần định đoạt vượt quá quyền của người lập. Phần đó không có hiệu lực. Phần còn lại vẫn có thể được giữ nguyên theo khoản 4 Điều 643 BLDS. Trước khi viết, nên xác định rõ tài sản nào là tài sản riêng, tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng, rồi ghi đúng tỷ lệ phần quyền của người lập. Cách xác định phần di sản khi một bên vợ, chồng qua đời được phân tích riêng tại bài chia tài sản khi vợ hoặc chồng chết.

Quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình, nhà đất đứng tên một người nhưng nhiều người cùng góp tiền, tài sản đang góp vốn kinh doanh: với các loại này, nếu người lập không biết chính xác phần của mình thì bản di chúc rất dễ bị phản đối.

Không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội

Người lập có các quyền rộng tại Điều 626 BLDS: chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản, phân định phần, dành tài sản để di tặng, thờ cúng, giao nghĩa vụ cho người thừa kế và chỉ định người quản lý, phân chia di sản. Nhưng các điều kiện hoặc nghĩa vụ gắn kèm không được trái điều cấm hay đạo đức xã hội. Ví dụ: buộc người hưởng phải ly hôn vợ, không được kết hôn với một người cụ thể, hoặc phải đổi tôn giáo mới được nhận tài sản. Những điều khoản như vậy có nguy cơ bị tuyên không có hiệu lực.

Cần tách bạch một điểm. Việc không cho con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, hoặc con thành niên không có khả năng lao động hưởng di sản không làm di chúc trái pháp luật. Những người này vẫn được hưởng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, theo Điều 644 BLDS. Phần cho những người khác sẽ bị trích lại tương ứng. Di chúc vẫn hợp pháp, chỉ có phân phối thực tế thay đổi. Cách tính cụ thể nằm ở bài người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Những nội dung bắt buộc phải có

Khoản 1 Điều 631 BLDS liệt kê bốn nội dung chủ yếu:

  1. Ngày, tháng, năm lập di chúc.
  2. Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc.
  3. Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản.
  4. Di sản để lại và nơi có di sản.

Khoản 3 Điều 631 bổ sung các yêu cầu về trình bày. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu. Nếu di chúc có nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập. Chỗ tẩy xóa, sửa chữa phải có chữ ký của người tự viết di chúc hoặc người làm chứng bên cạnh.

Lấy lại ví dụ ở đầu bài. Hai trang đầu không ký, không đánh số, lại có một chỗ sửa không ai ký xác nhận. Đây đều là những vi phạm khoản 3 Điều 631, và chính chúng mở đường cho tranh chấp. Tòa án có thể vẫn công nhận nếu chứng minh được toàn bộ văn bản do người lập viết. Nhưng gia đình sẽ phải qua giám định chữ viết và nhiều năm tố tụng mới đi đến được kết luận đó.

Với nhà đất, “di sản và nơi có di sản” nên được mô tả bằng số thửa, số tờ bản đồ, địa chỉ và số giấy chứng nhận. Những cách gọi như “căn nhà ở quê” hay “mảnh đất ngoài đồng” dễ dẫn đến tranh chấp về việc người lập định đoạt tài sản nào. Các mẫu di chúc có hướng dẫn cách ghi phần này cho từng loại tài sản.

Hình thức di chúc và điều kiện riêng của từng loại

Theo Điều 627 BLDS, di chúc phải được lập thành văn bản. Chỉ khi không thể lập bằng văn bản mới được di chúc miệng. Điều 628 chia di chúc bằng văn bản thành bốn loại, mỗi loại có điều kiện hình thức riêng.

Hình thứcAi viếtNgười làm chứngXác nhậnCăn cứ
Văn bản không có người làm chứngNgười lập tự viết tay toàn bộ và kýKhông cầnKhông cầnĐiều 633 BLDS
Văn bản có người làm chứngNgười lập tự đánh máy, hoặc nhờ người khác viết, đánh máyÍt nhất 2 người, chứng kiến việc kýKhông cầnĐiều 634 BLDS
Văn bản có công chứngCông chứng viên ghi chép theo lời tuyên bố, hoặc người lập nộp bản soạn sẵnChỉ cần khi người lập không đọc, không nghe, không ký hoặc không điểm chỉ đượcCông chứng viênĐiều 635, 636, 639 BLDS
Văn bản có chứng thựcNhư trên, thực hiện tại UBND cấp xãNhư trênNgười có thẩm quyền chứng thựcĐiều 635, 636 BLDS
Di chúc miệngNgười làm chứng ghi chépÍt nhất 2 ngườiCông chứng hoặc chứng thực chữ ký người làm chứng trong 05 ngày làm việcĐiều 629, khoản 5 Điều 630 BLDS

Di chúc viết tay không có người làm chứng

Điều 633 BLDS yêu cầu người lập phải tự viết và ký vào bản di chúc. “Tự viết” ở đây là viết tay toàn bộ nội dung. In sẵn một mẫu, điền tên rồi ký không đáp ứng điều kiện này. Đánh máy toàn văn rồi ký cũng không đáp ứng. Bản đánh máy chỉ hợp lệ nếu được lập theo hình thức có người làm chứng.

Đây là hình thức rẻ và kín đáo nhất. Nhưng nếu không có ai chứng kiến, khi bị phản đối thì gánh nặng chứng minh chữ viết và chữ ký thuộc về người muốn bảo vệ di chúc. Khi đó gần như chắc chắn phải trưng cầu giám định. Nếu chọn hình thức này, nên giữ lại một vài văn bản viết tay khác của người lập ở cùng thời kỳ để làm mẫu so sánh.

Di chúc có người làm chứng

Theo Điều 634 BLDS, người lập phải ký hoặc điểm chỉ trước mặt ít nhất hai người làm chứng. Những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập và ký vào bản di chúc. Trình tự này phải diễn ra tại cùng một thời điểm. Trường hợp người lập ký trước, vài hôm sau mới mang đi nhờ hàng xóm ký làm chứng là sai trình tự Điều 634, dù chữ ký của người lập là thật.

Ai không được làm chứng cho việc lập di chúc

Điều 632 BLDS cho phép mọi người làm chứng, trừ ba nhóm:

  1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
  2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
  3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Nhóm thứ nhất gây ra nhiều rắc rối nhất. Gia đình thường nhờ con cháu làm chứng cho tiện. Nhưng con là người thừa kế hàng thứ nhất theo pháp luật, nên không được làm chứng, kể cả khi người con đó không được nhận gì theo di chúc.

Cách hiểu “người thừa kế theo pháp luật” trong thực tiễn chưa hoàn toàn thống nhất. Có ý kiến cho rằng chỉ loại trừ người thực sự được hưởng nếu chia theo pháp luật vào thời điểm mở thừa kế. Có ý kiến loại trừ mọi người thuộc ba hàng thừa kế tại Điều 651 BLDS. Con dâu, con rể không thuộc hàng thừa kế nào của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ, nên về câu chữ không bị loại theo khoản 1. Chúng tôi vẫn khuyên chọn người hoàn toàn không có quan hệ huyết thống hay hôn nhân với người lập và người hưởng, chẳng hạn hàng xóm, đồng nghiệp hoặc nhân viên văn phòng luật sư. Nên ghi đầy đủ số định danh của họ trên di chúc.

Người không biết chữ hoặc bị hạn chế về thể chất

Khoản 3 Điều 630 BLDS buộc di chúc của người không biết chữ hoặc người bị hạn chế về thể chất phải đáp ứng đồng thời hai yêu cầu: do người làm chứng lập thành văn bản, và có công chứng hoặc chứng thực.

Với nhóm này, một bản đánh máy có hai người làm chứng ký là chưa đủ. Bản đó vẫn phải được công chứng hoặc chứng thực. Người bị liệt tay, mắt kém không đọc được, hoặc người lớn tuổi chỉ còn điểm chỉ được là những trường hợp hay rơi vào nhóm này mà gia đình không nhận ra. Thủ tục công chứng khi người lập không đọc, không nghe, không ký hoặc không điểm chỉ được, và việc mời công chứng viên đến nhà theo Điều 639 BLDS, được trình bày tại bài công chứng di chúc.

Di chúc có giá trị như di chúc được công chứng

Điều 638 BLDS liệt kê sáu trường hợp di chúc bằng văn bản có xác nhận của người phụ trách có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực:

  • Quân nhân tại ngũ, khi không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực.
  • Người đang đi trên tàu biển, máy bay.
  • Người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng.
  • Người làm công việc khảo sát, thăm dò ở vùng rừng núi, hải đảo.
  • Công dân Việt Nam ở nước ngoài, với chứng nhận của cơ quan đại diện Việt Nam.
  • Người đang bị tạm giam, tạm giữ, chấp hành án phạt tù hoặc biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.

Với di chúc của người đang nằm viện, điểm cần lưu ý là người xác nhận phải là người phụ trách bệnh viện hoặc cơ sở điều trị. Chữ ký của bác sĩ điều trị hay điều dưỡng trực ca không đáp ứng khoản 3 Điều 638. Di chúc miệng trong tình huống nguy cấp được phân tích tại bài di chúc miệng.

Di chúc hợp pháp và di chúc có hiệu lực

Hai khái niệm này hay bị dùng lẫn. Thực ra chúng được xét ở hai thời điểm khác nhau.

Tiêu chíDi chúc hợp phápDi chúc có hiệu lực
Thời điểm xétLúc lập di chúcLúc mở thừa kế, tức lúc người lập chết
Căn cứĐiều 630, 631–638 BLDSĐiều 643 BLDS
Câu hỏi đặt raNgười lập có đủ điều kiện không, nội dung và hình thức có đúng luật khôngNgười được hưởng còn sống không, tổ chức còn tồn tại không, tài sản còn không, có bản di chúc sau thay thế không
Khi không đáp ứngDi chúc hoặc phần không hợp pháp không được thi hành; phần di sản liên quan chia theo pháp luậtPhần di chúc liên quan không có hiệu lực; phần di sản đó chia theo pháp luật

Một bản di chúc lập đúng luật vẫn có thể mất hiệu lực một phần trong các trường hợp sau:

  • Người con được chỉ định chết trước cha mẹ (điểm a khoản 2 Điều 643).
  • Căn nhà được định đoạt đã bị bán trước khi người lập qua đời (khoản 3 Điều 643).
  • Người lập để lại nhiều bản di chúc cho cùng một tài sản. Khi đó chỉ bản sau cùng có hiệu lực (khoản 5 Điều 643).

Người lập có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào (Điều 640 BLDS). Cách thực hiện để không để lại các bản mâu thuẫn được hướng dẫn tại bài hủy bỏ di chúc.

Những lỗi thường gặp khi lập di chúc tại nhà

Phần lớn các hồ sơ tranh chấp về di chúc mà chúng tôi tiếp nhận đều xuất phát từ một trong những lỗi dưới đây. Không lỗi nào xuất phát từ ý đồ xấu.

Lỗi thường gặpĐiều luật bị vi phạmRủi ro
Đánh máy hoặc in mẫu rồi ký, không có người làm chứngĐiều 633, 634 BLDSKhông đáp ứng hình thức nào trong Điều 628
Nhờ con, cháu ruột ký làm chứngKhoản 1 Điều 632 BLDSHình thức có người làm chứng không đạt
Người làm chứng ký sau, không có mặt khi người lập kýĐiều 634 BLDSHình thức có người làm chứng không đạt
Nhiều trang nhưng không đánh số, không ký từng trangKhoản 3 Điều 631 BLDSTranh chấp về việc thay trang, thêm trang
Sửa tên người hưởng hoặc diện tích đất mà không ký bên cạnhKhoản 3 Điều 631 BLDSPhần sửa bị nghi ngờ, có thể không được công nhận
Định đoạt toàn bộ tài sản chung vợ chồngĐiều 624 BLDSPhần vượt quyền không có hiệu lực
Người lập không biết chữ hoặc liệt tay nhưng không công chứng, chứng thựcKhoản 3 Điều 630 BLDSDi chúc không hợp pháp về hình thức
Không ghi ngày lậpĐiểm a khoản 1 Điều 631 BLDSKhông xác định được bản sau cùng và tình trạng minh mẫn lúc lập
Di chúc chung của vợ chồng định đoạt chung một khối tài sảnĐiều 624, 640 BLDSKhó xác định phần của từng người khi một người mất trước

Lỗi cuối cùng cần nói thêm. BLDS 2015 không còn quy định về di chúc chung của vợ chồng như BLDS 2005. Các hệ quả của loại di chúc này được phân tích tại bài di chúc chung của vợ chồng.

Khi một trong các lỗi trên đã xảy ra và người lập đã qua đời, câu hỏi chuyển sang việc di chúc có bị tuyên không có hiệu lực hay không. Cách Tòa án đánh giá chứng cứ, giám định chữ ký và xác định phạm vi phần bị vô hiệu được trình bày tại bài di chúc vô hiệu.

Lập di chúc hay tặng cho tài sản khi còn sống

Nhiều cha mẹ muốn để nhà đất cho một người con đã hỏi chúng tôi nên lập di chúc hay ký hợp đồng tặng cho. Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở thời điểm chuyển quyền và khả năng thay đổi ý định:

  • Di chúc chỉ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế (khoản 1 Điều 643 BLDS). Người lập vẫn toàn quyền sử dụng, bán, thế chấp tài sản và có thể đổi ý bất cứ lúc nào. Đổi lại, phần cho người hưởng vẫn bị giới hạn bởi Điều 644 BLDS.
  • Tặng cho nhà đất chuyển quyền khi đăng ký xong. Sau đó cha mẹ không còn là chủ sở hữu. Điều 644 BLDS không áp dụng với tài sản đã tặng cho.

Phân tích chi tiết từ góc độ tài sản riêng của người con sau khi kết hôn có tại bài bố mẹ cho con đất sau khi kết hôn. Với các cặp đôi cùng giới, pháp luật không ghi nhận quan hệ vợ chồng nên người bạn đời không có quyền thừa kế theo pháp luật. Di chúc gần như là công cụ duy nhất để bảo đảm quyền lợi cho nhau, như đã phân tích tại bài tài sản chung của cặp đôi đồng giới.

Câu hỏi thường gặp

Không bắt buộc. Di chúc tự viết tay và ký đáp ứng Điều 633, Điều 631 BLDS là hợp pháp nếu người lập đủ điều kiện tại khoản 1 Điều 630. Ngoại lệ là người không biết chữ hoặc bị hạn chế về thể chất: di chúc của họ phải được công chứng hoặc chứng thực.

Có, nếu được lập theo hình thức có người làm chứng. Phải có ít nhất hai người làm chứng không thuộc các trường hợp bị loại trừ tại Điều 632 BLDS, và người lập ký trước mặt họ. Bản đánh máy cũng có thể được công chứng hoặc chứng thực.

Không. Con là người thừa kế theo pháp luật hàng thứ nhất, thuộc trường hợp bị loại trừ tại khoản 1 Điều 632 BLDS. Quy định này áp dụng kể cả khi người con đó không được nhận tài sản theo di chúc.

BLDS không bắt buộc. Nhưng điều kiện minh mẫn, sáng suốt tại điểm a khoản 1 Điều 630 là điều kiện dễ bị phản đối nhất với người cao tuổi. Kết luận khám chuyên khoa về nhận thức gần ngày lập, kèm theo công chứng di chúc, là cách phòng ngừa hiệu quả nhất.

Được. Khoản 1 Điều 626 BLDS cho phép người lập chỉ định người thừa kế và truất quyền hưởng di sản của người khác. Tuy nhiên, những người thuộc diện bảo vệ tại Điều 644 BLDS vẫn được hưởng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật. Diện này gồm con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động.

Ngày lập là nội dung chủ yếu theo điểm a khoản 1 Điều 631 BLDS. Thiếu ngày thì không xác định được tình trạng nhận thức của người lập lúc ký, cũng không xác định được bản nào là bản sau cùng theo khoản 5 Điều 643. Một bản di chúc như vậy có rủi ro cao bị tuyên không hợp pháp, nhất là khi có bản khác hoặc có tranh chấp về năng lực.

Lời khuyên của Luật sư

Phần lớn chi phí của một vụ tranh chấp thừa kế có thể tránh được ngay từ buổi lập di chúc. Nếu tài sản là nhà đất, người lập cao tuổi, hoặc gia đình có nhiều con, nhiều cuộc hôn nhân, chúng tôi khuyên kết hợp ba việc:

  1. Xác định chính xác phần tài sản của người lập.
  2. Lập di chúc có công chứng.
  3. Gửi giữ bản gốc tại nơi mà những người thừa kế sẽ tìm được khi cần.

Khi người lập đã qua đời, các bước tiếp theo được trình bày tại bài chia di sản thừa kế. Nếu các bên không thống nhất được, bài khởi kiện chia di sản thừa kế hướng dẫn con đường tố tụng.

Đội ngũ luật sư thừa kế của chúng tôi hỗ trợ soạn và rà soát di chúc, xác định phần tài sản được định đoạt, đi cùng người lập đến tổ chức công chứng hoặc mời công chứng viên đến tận nhà. Với các gia đình có khối tài sản lớn hoặc cấu trúc phức tạp, dịch vụ luật sư riêng giúp lập kế hoạch tài sản dài hạn, trong đó di chúc là một phần.

Phân chia di sản không chỉ là thủ tục — đó là việc bảo toàn tài sản và gìn giữ quan hệ gia đình qua các thế hệ. Luật Quốc Ấn tư vấn lập di chúc, khai nhận di sản và cấu trúc chuyển giao tài sản an toàn về pháp lý.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698