Chia tài sản khi ly hôn và cách Tòa án tính phần của mỗi bên
Một chiếc ô tô người chồng đang chạy taxi, trị giá 400 triệu đồng. Một cửa hàng tạp hóa người vợ đang bán, trị giá 200 triệu đồng. Tòa án không bán cả hai rồi chia đôi tiền. Tòa giao xe cho chồng, giao cửa hàng cho vợ để mỗi người tiếp tục có thu nhập, rồi buộc người chồng trả cho vợ 100 triệu đồng tiền chênh lệch. Ví dụ này được lấy nguyên từ văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. Nó cho thấy cách Tòa thực sự chia tài sản khi ly hôn: xác định khối tài sản, lấy mức chia đôi làm điểm xuất phát, điều chỉnh theo hoàn cảnh từng bên, rồi quyết định ai nhận hiện vật nào và ai trả tiền cho ai.
Tóm tắt
- Vợ chồng được tự thỏa thuận chia tài sản. Tòa án chỉ chia khi hai bên không thỏa thuận được và có yêu cầu (khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014).
- Có thỏa thuận chế độ tài sản trước hôn nhân còn hiệu lực thì Tòa chia theo thỏa thuận đó; không có thì áp dụng chế độ luật định.
- Theo chế độ luật định, tài sản chung được chia đôi nhưng có tính đến bốn yếu tố: hoàn cảnh, công sức đóng góp, nhu cầu tiếp tục làm ăn, và lỗi của mỗi bên. Người ở nhà nội trợ, chăm con được coi như có thu nhập tương đương người đi làm.
- Tòa ưu tiên chia bằng hiện vật. Ai nhận phần hiện vật lớn hơn thì trả tiền chênh lệch. Giá trị tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm.
- Nhà là chỗ ở duy nhất, không chia được bằng hiện vật, thì bên nuôi con chưa thành niên được xem xét nhận nhà và thanh toán phần giá trị cho bên kia.
- Hai bên tự thỏa thuận chia tài sản và đề nghị Tòa ghi nhận trước phiên hòa giải thì không phải chịu án phí phần tài sản.
Thỏa thuận trước, Tòa án chỉ vào cuộc khi cần
Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (sau đây gọi là Luật HNGĐ) đặt thỏa thuận lên trước. Chỉ khi vợ chồng không thỏa thuận được và một hoặc cả hai có yêu cầu, Tòa án mới giải quyết theo các khoản 2 đến 5 Điều 59 và các điều 60 đến 64 Luật HNGĐ.
Trên thực tế có ba hướng đi:
Hướng | Cách làm | Lưu ý |
| Thỏa thuận và đề nghị Tòa ghi nhận | Ghi nội dung chia vào đơn thuận tình, hoặc trình bày tại Tòa trong vụ án ly hôn | Thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phải bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con (Điều 55 Luật HNGĐ; khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP) |
| Không yêu cầu Tòa chia | Ly hôn trước, tài sản để hai bên tự lo | Vẫn được coi là đã thỏa thuận về tài sản (khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP). Tài sản chưa chia vẫn là tài sản chung |
| Yêu cầu Tòa chia | Nêu rõ yêu cầu chia trong đơn khởi kiện hoặc đơn phản tố | Phải chứng minh tài sản, giá trị, công sức; chịu án phí có giá ngạch |
Hướng thứ hai hay bị xem nhẹ. Ly hôn xong mà chưa chia thì tài sản vẫn là tài sản chung, bán hay thế chấp đều cần cả hai; khi phát sinh tranh chấp, việc khởi kiện, thời hiệu và cách xử lý tài sản bị giấu được trình bày tại bài chia tài sản sau ly hôn.
Một cảnh báo: thỏa thuận chia tài sản mà mục đích là để một bên “rỗng tài sản”, né nợ ngân hàng hay nghĩa vụ với người khác, có thể bị coi là ly hôn giả tạo (khoản 15 Điều 3 Luật HNGĐ). Chủ nợ vẫn có quyền yêu cầu, vì nghĩa vụ với người thứ ba không mất đi chỉ vì vợ chồng ly hôn (khoản 1 Điều 60 Luật HNGĐ).
Toàn bộ trình tự nộp đơn, hòa giải và xét xử được trình bày trong bài thủ tục ly hôn. Bài này chỉ tập trung vào phần tài sản.
Chế độ tài sản quyết định luật chơi
Trước khi bàn tỷ lệ, Tòa phải xác định vợ chồng đang theo chế độ tài sản nào (khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, sau đây gọi là TTLT 01/2016):
- Không có văn bản thỏa thuận chế độ tài sản, hoặc văn bản đó bị tuyên vô hiệu toàn bộ, thì chia theo chế độ luật định.
- Có văn bản thỏa thuận và văn bản không bị vô hiệu toàn bộ thì chia theo nội dung thỏa thuận. Phần nào không thỏa thuận, thỏa thuận không rõ hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các khoản 2 đến 5 Điều 59 và các điều 60 đến 64 Luật HNGĐ.
Nếu một bên muốn tuyên bố thỏa thuận chế độ tài sản vô hiệu, Tòa giải quyết yêu cầu đó cùng lúc với yêu cầu chia tài sản trong vụ ly hôn (khoản 2 Điều 7 TTLT 01/2016). Không cần mở một vụ việc riêng. Điều kiện hiệu lực và những điều khoản dễ bị vô hiệu của loại văn bản này được phân tích trong bài hợp đồng tiền hôn nhân.
Ở Việt Nam, đa số các cặp vợ chồng không lập thỏa thuận chế độ tài sản, nên phần còn lại của bài viết đi theo chế độ luật định.
Xác định đúng khối tài sản trước khi chia
Tòa chỉ chia tài sản chung. Tài sản riêng thuộc về người có tài sản, trừ khi đã nhập vào tài sản chung (khoản 4 Điều 59 Luật HNGĐ). Việc phân loại tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng có nhiều quy tắc và nhiều tranh chấp riêng, nên không nhắc lại ở đây. Chỉ cần nhớ ba điểm có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chia:
- Tài sản đang tranh chấp mà không bên nào chứng minh được là tài sản riêng thì được coi là tài sản chung (khoản 3 Điều 33 Luật HNGĐ). Gánh nặng chứng minh nằm ở người cho rằng đó là tài sản riêng.
- Tên trên giấy chứng nhận không quyết định tài sản là chung hay riêng. Giấy chỉ ghi tên một người thì tranh chấp vẫn được giải quyết theo khoản 3 Điều 33 (khoản 2 Điều 34 Luật HNGĐ).
- Tài sản riêng đã sáp nhập, trộn lẫn với tài sản chung thì người có tài sản riêng được thanh toán phần giá trị mình đã đóng góp vào khối tài sản đó, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác (đoạn 2 khoản 4 Điều 59 Luật HNGĐ). Ví dụ điển hình là tiền bán căn hộ có trước hôn nhân được dùng góp mua nhà chung.
Tài sản đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo văn bản thỏa thuận hợp lệ là tài sản riêng của mỗi bên, không đưa vào khối chia lại khi ly hôn (khoản 1 Điều 40 Luật HNGĐ).
Một trường hợp ngày càng hay gặp là vợ chồng còn phôi trữ đông tại cơ sở thụ tinh trong ống nghiệm. Phôi không được định giá rồi chia như nhà đất hay tiền gửi; việc giữ, hủy hay sử dụng phôi khi hôn nhân chấm dứt đi theo một logic khác, được phân tích trong bài phôi trữ đông.
Chia đôi, rồi điều chỉnh theo bốn yếu tố
Khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ quy định tài sản chung “được chia đôi nhưng có tính đến” bốn yếu tố. Khoản 4 Điều 7 TTLT 01/2016 giải thích từng yếu tố:
Yếu tố | Nội dung theo TTLT 01/2016 | Chứng cứ thường dùng |
| Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng | Năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo thu nhập sau ly hôn của mỗi bên và của thành viên gia đình mà họ có nghĩa vụ. Bên khó khăn hơn được chia nhiều hơn hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản giúp ổn định cuộc sống | Hồ sơ bệnh án, xác nhận thu nhập, tình trạng việc làm, số người phụ thuộc |
| Công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung | Gồm tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động. Người ở nhà chăm con, lo việc nhà được tính như có thu nhập tương đương người đi làm. Bên đóng góp nhiều hơn được chia nhiều hơn | Sao kê tài khoản, chứng từ trả tiền mua nhà, hợp đồng vay, xác nhận của người làm chứng về việc ai trực tiếp làm ăn, ai chăm lo gia đình |
| Bảo vệ lợi ích chính đáng trong sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp | Bên đang hành nghề, đang kinh doanh được tiếp tục, nhưng phải trả phần chênh lệch; không được làm ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con | Giấy phép kinh doanh, hợp đồng thuê mặt bằng, chứng chỉ hành nghề, hồ sơ thuế |
| Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng | Lỗi vi phạm nghĩa vụ về nhân thân, tài sản dẫn đến ly hôn. TTLT nêu ví dụ bạo lực gia đình, không chung thủy, phá tán tài sản | Quyết định xử phạt, đơn trình báo, tin nhắn, hình ảnh, chứng từ chuyển tài sản |
Hai điểm về cách vận dụng.
Thứ nhất, luật không quy định tỷ lệ cố định cho từng yếu tố. Không có quy tắc “ngoại tình thì mất 10%”. Tòa đánh giá tổng thể và quyết định tỷ lệ trong bản án, thường chỉ lệch khỏi mức 50/50 khi chứng cứ về một yếu tố thật sự rõ. Người muốn được chia nhiều hơn phải chứng minh yếu tố có lợi cho mình, không thể chỉ nêu trong đơn.
Thứ hai, yếu tố “công sức” dễ bị hiểu sai theo hướng ai kiếm nhiều tiền thì được nhiều hơn. Hướng dẫn của TTLT 01/2016 đi ngược lại: lao động trong gia đình được quy đổi ngang với thu nhập của người đi làm. Thực tiễn xét xử cũng thường tính công sức của người trực tiếp quản lý, tôn tạo tài sản, chẳng hạn người trực tiếp xây, sửa nhà hoặc giữ gìn tài sản trong thời gian dài hai bên sống ly thân.
Chia bằng hiện vật hay bằng tiền
Tài sản chung được chia bằng hiện vật. Không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị. Bên nhận phần hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia (khoản 3 Điều 59 Luật HNGĐ).
Ví dụ taxi và tạp hóa ở đầu bài minh họa đúng nguyên tắc này. Khi quyết định ai nhận hiện vật nào, Tòa cân nhắc ai đang sử dụng, ai cần tài sản đó để làm ăn hay để ở, ai có khả năng thanh toán chênh lệch. Người muốn giữ nhà nhưng không chứng minh được khả năng trả tiền cho bên kia thường khó thuyết phục Tòa.
Định giá
Giá trị tài sản chung và tài sản riêng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm (khoản 5 Điều 7 TTLT 01/2016), không theo giá mua. Căn nhà mua 1,2 tỷ đồng năm 2015 có thể được định giá 4 tỷ đồng khi xét xử, và phần chênh lệch mỗi bên nhận hay phải trả được tính trên 4 tỷ đồng.
Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) cho phép ba cách xác định giá:
- Các bên tự thỏa thuận giá tài sản.
- Các bên thỏa thuận chọn một tổ chức thẩm định giá và nộp kết quả cho Tòa.
- Tòa ra quyết định định giá và thành lập Hội đồng định giá, khi một bên yêu cầu, khi các bên không thỏa thuận được giá hoặc chọn được tổ chức thẩm định, hoặc khi giá thỏa thuận thấp bất thường nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hay người thứ ba.
Có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp giá thị trường thì được định giá lại (khoản 5 Điều 104 BLTTDS). Nếu vụ án kéo dài và giá nhà đất biến động mạnh, bên bị thiệt nên chủ động đề nghị định giá lại trước khi xét xử sơ thẩm.
Chi phí định giá trong vụ chia tài sản chung được chia theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mỗi người nhận (khoản 2 Điều 165 BLTTDS), trừ khi hai bên thỏa thuận khác.
Nhà ở và quyền sử dụng đất
Chia đất theo loại đất
Điều 62 Luật HNGĐ tách riêng việc chia quyền sử dụng đất:
Loại đất là tài sản chung | Cách chia |
| Đất nông nghiệp trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản | Cả hai có nhu cầu và điều kiện trực tiếp sử dụng thì chia theo thỏa thuận, không thỏa thuận được thì Tòa chia theo Điều 59. Chỉ một bên có nhu cầu và điều kiện thì bên đó tiếp tục sử dụng và thanh toán giá trị cho bên kia |
| Đất nông nghiệp nói trên mà vợ chồng dùng chung với hộ gia đình | Tách phần của vợ chồng ra rồi chia như dòng trên |
| Đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở | Chia theo Điều 59 Luật HNGĐ |
| Loại đất khác | Theo pháp luật đất đai |
Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc bên đó (khoản 1 Điều 62 Luật HNGĐ).
Nhà là chỗ ở duy nhất và quyền lợi của con
Khoản 5 Điều 59 Luật HNGĐ yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Khoản 6 Điều 7 TTLT 01/2016 cụ thể hóa bằng một tình huống: nhà là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất, không chia được bằng hiện vật, thì Tòa xem xét giao nhà cho người trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con bị hạn chế, mất năng lực hành vi dân sự, nếu người đó có yêu cầu, và người nhận nhà phải thanh toán cho bên kia giá trị phần được chia.
Quy định này không có nghĩa người nuôi con đương nhiên được nhận nhà. Người đó phải có yêu cầu, và Tòa vẫn xem xét khả năng thanh toán. Nếu người nuôi con không đủ tiền trả chênh lệch, Tòa có thể giao nhà cho bên kia và buộc bên kia thanh toán bằng tiền.
Quyền lưu cư sáu tháng
Nhà thuộc sở hữu riêng của một bên mà đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn là của người đó. Bên kia, nếu có khó khăn về chỗ ở, được quyền lưu cư 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ khi hai bên thỏa thuận khác (Điều 63 Luật HNGĐ).
Quyền lưu cư chỉ áp dụng với nhà riêng của người kia. Với nhà chung, người ở lại được chia hoặc được giao nhà theo các quy tắc trên, không cần viện dẫn lưu cư. Mốc sáu tháng tính từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật (khoản 1 Điều 57 Luật HNGĐ), không tính từ ngày nộp đơn.
Vợ chồng sống chung với gia đình
Đây là loại vụ việc phức tạp nhất trong thực tiễn, vì tài sản của vợ chồng lẫn vào tài sản của cha mẹ, anh chị em. Điều 61 Luật HNGĐ chia hai trường hợp:
Tình huống | Cách giải quyết |
| Phần của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình xác định được theo phần | Trích phần của vợ chồng ra rồi chia theo Điều 59 Luật HNGĐ (khoản 2 Điều 61) |
| Không xác định được phần của vợ chồng | Vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản và vào đời sống chung. Thỏa thuận với gia đình trước, không được thì yêu cầu Tòa giải quyết (khoản 1 Điều 61) |
Vợ chồng sống chung với gia đình nhưng không có quyền sử dụng đất chung với hộ gia đình thì quyền lợi của bên ra đi được giải quyết theo Điều 61 (khoản 3 Điều 62 Luật HNGĐ). Nói cách khác, người con dâu hay con rể không đứng tên đất vẫn có thể được chia một phần tương ứng với công sức đóng góp, chứ không ra đi tay trắng.
Tranh chấp thường gặp nhất là đất của cha mẹ mà vợ chồng con đã xây nhà ở. Án lệ 03/2016/AL (Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016) xử lý đúng tình huống này: cha mẹ đã cho vợ chồng người con đất, vợ chồng xây nhà kiên cố để ở mà cha mẹ và các thành viên khác không phản đối, sử dụng liên tục, công khai, ổn định, đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì phải xác định vợ chồng đã được tặng cho quyền sử dụng đất.
Vụ việc gốc của án lệ là một vụ ly hôn ở Thường Tín, Hà Nội. Tòa sơ thẩm và phúc thẩm tin lời người cha rằng chỉ cho ở nhờ, buộc vợ chồng trả đất và chỉ được thanh toán giá trị căn nhà. Hội đồng giám đốc thẩm đảo ngược: người chồng đã tự kê khai và đứng tên giấy chứng nhận từ năm 2001, vợ chồng xây nhà năm 2002 và nâng tầng năm 2005 công khai, gia đình biết mà suốt tám năm không khiếu nại, nên ý chí cho đất là rõ và đất là tài sản chung. Có hai chi tiết đáng dùng khi tranh luận. Thứ nhất, sự im lặng kéo dài của cha mẹ trước việc con kê khai, xây dựng được coi là chứng cứ về ý chí tặng cho. Thứ hai, khi chia, người chồng được coi là có công sức đóng góp nhiều hơn vì đất có nguồn gốc từ gia đình anh, và việc chia hiện vật phải căn cứ nhu cầu chỗ ở của mỗi bên.
Ngược lại, nếu thiếu các dấu hiệu đó, chẳng hạn đất vẫn đứng tên cha mẹ và cha mẹ phản đối ngay khi vợ chồng xây dựng, thì vợ chồng thường chỉ được thanh toán giá trị căn nhà đã xây và công sức tôn tạo, như cách tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã xử trong vụ án gốc.
Trong các vụ này, cha mẹ và những người cùng sống chung phải được đưa vào tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Hồ sơ khởi kiện nên ghi rõ họ tên, địa chỉ của họ ngay từ đầu để tránh bị trả hồ sơ hoặc bị hủy án vì thiếu người tham gia tố tụng. Loại vụ việc này gần như luôn cần luật sư hôn nhân và gia đình dựng lại nguồn gốc đất, lịch sử kê khai và công sức của từng người trước phiên hòa giải.
Tài sản đang dùng để kinh doanh
Vợ, chồng đang trực tiếp kinh doanh bằng tài sản chung có quyền nhận tài sản đó và thanh toán cho bên kia phần giá trị họ được hưởng, trừ khi pháp luật về kinh doanh có quy định khác (Điều 64 Luật HNGĐ).
Nguyên tắc này áp dụng thuận lợi với hộ kinh doanh, cửa hàng, xe chở hàng, máy móc. Với phần vốn góp, cổ phần trong doanh nghiệp, cần đối chiếu thêm điều lệ công ty và pháp luật doanh nghiệp, vì việc bên kia trở thành thành viên, cổ đông có thể bị giới hạn. Khi đó Tòa thường giao phần vốn góp cho bên đang là thành viên và buộc thanh toán bằng tiền theo giá trị được định giá.
Nợ, thế chấp và người thứ ba
Ly hôn không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng với người thứ ba, trừ khi vợ chồng và người thứ ba thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 60 Luật HNGĐ). Tranh chấp về nghĩa vụ được giải quyết theo các điều 27, 37 và 45 Luật HNGĐ và Bộ luật Dân sự (khoản 2 Điều 60). Cách phân biệt nợ riêng với nợ chung của vợ chồng quyết định khoản nào được trừ vào khối tài sản trước khi chia.
Khi chia tài sản, Tòa phải xác định vợ chồng có quyền, nghĩa vụ tài sản với người thứ ba hay không để đưa người đó vào tố tụng. Người thứ ba có yêu cầu thì Tòa giải quyết luôn trong vụ ly hôn. Người thứ ba không yêu cầu thì Tòa hướng dẫn giải quyết bằng vụ án khác (khoản 3 Điều 7 TTLT 01/2016).
Tình huống hay gặp là căn nhà chung đang thế chấp ngân hàng. Ngân hàng cần được đưa vào vụ án. Phương án chia thực tế nhất thường là giao nhà cho một bên, bên đó tiếp tục trả nợ vay, và phần chênh lệch trả cho bên kia được tính trên giá trị nhà sau khi trừ dư nợ. Phương án này chỉ khả thi khi ngân hàng đồng ý chuyển nghĩa vụ, nên cần trao đổi với ngân hàng trước phiên hòa giải.
Ngăn tẩu tán tài sản trong lúc chờ xét xử
Từ lúc nộp đơn đến khi bản án có hiệu lực có thể mất nhiều tháng. Nếu có dấu hiệu bên kia chuẩn bị bán, chuyển nhượng hoặc rút tiền khỏi tài khoản, người yêu cầu có thể đề nghị Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi ly hôn, như phong tỏa tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp. Đề nghị càng sớm càng tốt, vì tài sản đã chuyển cho người thứ ba ngay tình thì rất khó đòi lại.
Hành vi phá tán tài sản chung cũng là một biểu hiện của yếu tố lỗi. Chứng cứ về việc này vừa phục vụ yêu cầu ngăn chặn vừa là căn cứ đề nghị được chia phần nhiều hơn.
Thẩm quyền và án phí khi có tranh chấp tài sản
Tòa án nào giải quyết
Vụ ly hôn có tranh chấp bất động sản vẫn do Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc giải quyết, hoặc Tòa nơi nguyên đơn cư trú, làm việc nếu các bên thỏa thuận bằng văn bản chọn Tòa đó (điểm a, b khoản 1 Điều 39 BLTTDS). Tòa nơi có bất động sản không có thẩm quyền chỉ vì nhà đất nằm ở đó (khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP). Nhiều người nghĩ phải kiện ở nơi có nhà đất, đó là quy tắc của vụ án dân sự thông thường về bất động sản, không áp dụng cho vụ án hôn nhân gia đình.
Bất động sản ở nước ngoài thì việc chia tuân theo pháp luật nước nơi có bất động sản (khoản 3 Điều 127 Luật HNGĐ). Các vấn đề này được phân tích trong bài ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Án phí
Ngoài án phí ly hôn 300.000 đồng, mỗi bên còn chịu án phí có giá ngạch tương ứng giá trị phần tài sản mình được chia (điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14). Với khối tài sản vài tỷ đồng, khoản này lên tới hàng chục triệu đồng mỗi bên.
Thời điểm thỏa thuận ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền phải nộp:
Thời điểm hai bên thỏa thuận được việc chia | Án phí phần tài sản |
| Trước khi Tòa tiến hành hòa giải, và đề nghị Tòa ghi nhận | Không phải chịu (điểm d khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326) |
| Hòa giải không thành, nhưng thỏa thuận được trước khi mở phiên tòa | Chịu 50% án phí tương ứng phần được chia (điểm đ) |
| Chỉ thỏa thuận được một phần tài sản | Vẫn chịu án phí đối với toàn bộ tài sản chung (điểm e) |
Cách tính cụ thể từng bậc và tiền tạm ứng được trình bày trong bài án phí ly hôn.
Khi không có hôn nhân hợp pháp
Các quy tắc ở trên chỉ áp dụng khi có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn, hoặc việc kết hôn bị Tòa hủy kết hôn trái pháp luật, thì tài sản được giải quyết theo thỏa thuận, không thỏa thuận được thì theo Bộ luật Dân sự 2015, có bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và con, và công việc nội trợ được coi như lao động có thu nhập (Điều 16 Luật HNGĐ). Không có suy đoán tài sản chung như Điều 33, nên chứng cứ về nguồn tiền quan trọng hơn nhiều.
Hồ sơ chứng cứ nên chuẩn bị
Nhóm tài sản | Tài liệu nên có |
| Nhà, đất | Giấy chứng nhận, hợp đồng mua bán hoặc tặng cho, chứng từ thanh toán, giấy phép xây dựng, hóa đơn sửa chữa |
| Tiền gửi, tài khoản, chứng khoán | Sao kê giai đoạn trước và sau khi mâu thuẫn phát sinh, sổ tiết kiệm, xác nhận số dư |
| Xe, tài sản đăng ký | Giấy đăng ký, hợp đồng mua, chứng từ thanh toán |
| Tài sản kinh doanh | Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, báo cáo thuế, hợp đồng thuê mặt bằng, sổ sách |
| Nợ và thế chấp | Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, xác nhận dư nợ, giấy vay nợ cá nhân |
| Tài sản riêng đã góp vào tài sản chung | Chứng từ về nguồn gốc tài sản riêng và dòng tiền chuyển vào tài sản chung |
| Công sức và hoàn cảnh | Xác nhận thu nhập, hồ sơ sức khỏe, lời khai người làm chứng về việc nhà, việc chăm con, người trực tiếp làm ăn |
Nếu đơn yêu cầu chia tài sản được nộp cùng đơn ly hôn đơn phương, phần liệt kê tài sản cần ghi rõ từng tài sản, vị trí, giấy tờ, giá trị theo ý kiến của mình và phương án chia đề xuất. Một yêu cầu chung chung kiểu “chia đôi toàn bộ tài sản chung” thường bị Tòa yêu cầu sửa đổi, bổ sung, làm chậm việc thụ lý.
Câu hỏi thường gặp
Ngoại tình có bị chia ít tài sản hơn không?
Vợ ở nhà nội trợ, không có thu nhập, có được chia bằng chồng không?
Có. Lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập (điểm b khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ), và người ở nhà chăm con, lo việc nhà được tính như có thu nhập tương đương người đi làm (điểm b khoản 4 Điều 7 TTLT 01/2016).
Nhà chỉ đứng tên chồng thì vợ có được chia không?
Tên trên giấy chứng nhận không quyết định tài sản là chung hay riêng. Nếu nhà có được trong thời kỳ hôn nhân mà người chồng không chứng minh được là tài sản riêng, nhà được coi là tài sản chung và được chia (khoản 3 Điều 33, khoản 2 Điều 34 Luật HNGĐ). Cách xác định chi tiết xem bài tài sản chung của vợ chồng.
Ly hôn xong chưa chia tài sản, vài năm sau có kiện chia được không?
Được. Chia tài sản sau khi ly hôn là loại tranh chấp riêng theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS, và yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện (khoản 2 Điều 155 BLDS). Giá trị tài sản khi đó được xác định theo giá thị trường tại thời điểm xét xử.
Nhà đang thế chấp ngân hàng có chia được không?
Chia được. Ngân hàng được đưa vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Giá trị để chia thường là giá trị nhà sau khi trừ dư nợ, và người nhận nhà thường tiếp tục nghĩa vụ trả nợ nếu ngân hàng chấp thuận.
Nhà ở tỉnh khác thì phải kiện ở Tòa nơi có nhà không?
Không. Vụ án hôn nhân gia đình có tranh chấp bất động sản được xác định thẩm quyền theo nơi cư trú, làm việc của đương sự, không theo nơi có bất động sản (khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP).
Trong một vụ chia tài sản, phần lớn chênh lệch giữa hai bên không nằm ở tỷ lệ chia mà nằm ở việc tài sản nào được đưa vào khối chung, được định giá bao nhiêu và ai giữ hiện vật. Nếu anh chị cần lập danh mục tài sản, tính phương án thỏa thuận để tiết kiệm án phí hoặc chuẩn bị tranh tụng, có thể liên hệ dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi.
