Truất quyền thừa kế và những người không được hưởng di sản

Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, “từ con” hay “không cho đứa bất hiếu một đồng nào” là chuyện một người cha nói ra trong cơn giận. Về pháp lý, có hai cơ chế hoàn toàn khác nhau để một người con không nhận được di sản.

  • Truất quyền. Người để lại di sản tự quyết định, bằng di chúc. Pháp luật tôn trọng quyết định đó nhưng đặt giới hạn.
  • Không được quyền hưởng di sản. Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) tự động loại một người, khi họ có hành vi vi phạm nghiêm trọng với người để lại di sản hoặc với di chúc. Việc loại này áp dụng dù người để lại di sản có lập di chúc hay không.

Nhầm lẫn giữa hai cơ chế này là nguyên nhân của nhiều đơn khởi kiện sai hướng. Bài viết phân tích từng cơ chế, cách chứng minh, và những trường hợp người tưởng đã bị loại vẫn được hưởng di sản.

Tóm tắt

  • Truất quyền là quyền của người lập di chúc theo khoản 1 Điều 626 BLDS. Người lập không cần nêu lý do. Người bị truất quyền không được hưởng cả phần theo di chúc lẫn phần chia theo pháp luật (khoản 3 Điều 651 BLDS).
  • Truất quyền không loại được người thuộc diện bảo vệ tại Điều 644 BLDS: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên không có khả năng lao động. Những người này vẫn được hưởng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật.
  • Không được quyền hưởng di sản là hậu quả pháp lý theo khoản 1 Điều 621 BLDS. Có bốn nhóm hành vi: (1) Bị kết án về hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; (2) Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; (3) Bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác để hưởng di sản; (4) Lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản việc lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy, che giấu di chúc.
  • Người không được quyền hưởng di sản cũng mất luôn sự bảo vệ của Điều 644 BLDS (khoản 2 Điều 644 BLDS).
  • Họ vẫn được hưởng nếu người để lại di sản đã biết hành vi đó nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc (khoản 2 Điều 621 BLDS).
  • Con của người bị truất quyền hoặc không được quyền hưởng không được thế vị khi cha mẹ mình còn sống. Thế vị chỉ áp dụng khi người con chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản (Điều 652 BLDS).

Hai cơ chế khác nhau

Tiêu chí

Truất quyền hưởng di sản

Không được quyền hưởng di sản

Căn cứKhoản 1 Điều 626 BLDSKhoản 1 Điều 621 BLDS
Ai quyết địnhNgười lập di chúcPháp luật, Tòa án xác định khi có tranh chấp
Cần di chúc khôngCó, phải là di chúc hợp phápKhông, áp dụng cả khi chia theo pháp luật
Cần lý do khôngKhôngPhải có hành vi thuộc khoản 1 Điều 621
Có loại được người thuộc Điều 644 khôngKhôngCó (khoản 2 Điều 644 BLDS)
Người để lại di sản có thể “tha thứ” khôngCó thể lập di chúc mới, hủy bỏ việc truất quyền (Điều 640 BLDS)Có, bằng cách cho hưởng theo di chúc khi đã biết hành vi (khoản 2 Điều 621 BLDS)

Truất quyền hưởng di sản bằng di chúc

Cách thể hiện

Khoản 1 Điều 626 BLDS liệt kê quyền “chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế”. Truất quyền có thể thể hiện theo hai cách:

  • Truất quyền rõ ràng. Di chúc ghi thẳng: “Tôi truất quyền hưởng di sản của con tôi là A.”
  • Truất quyền ngầm định. Di chúc định đoạt toàn bộ di sản cho những người khác và không nhắc đến A.

Hai cách cho kết quả khác nhau trong một tình huống quan trọng: khi có phần di sản phải chia theo pháp luật. Ví dụ: di chúc không định đoạt hết tài sản, hoặc một người được chỉ định chết trước người lập.

  • Nếu A bị truất quyền rõ ràng, A không được hưởng cả phần chia theo pháp luật. Lý do là khoản 3 Điều 651 BLDS coi người “bị truất quyền hưởng di sản” như không còn trong hàng thừa kế.
  • Nếu A chỉ đơn giản không có tên trong di chúc, A vẫn được chia trong phần di sản áp dụng thừa kế theo pháp luật.

Người lập di chúc muốn chắc chắn một người không nhận gì thì phải viết rõ câu truất quyền. Di chúc chỉ truất quyền mà không định đoạt tài sản cũng có giá trị: toàn bộ di sản được chia theo pháp luật cho những người còn lại.

Giới hạn của việc truất quyền

Người lập di chúc truất quyền mà không cần giải thích lý do. Nhưng truất quyền không vượt qua được Điều 644 BLDS. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động vẫn được hưởng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, dù di chúc ghi rõ truất quyền họ. Cách tính được trình bày tại bài người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Trên thực tế, truất quyền chỉ có hiệu quả trọn vẹn với con đã thành niên và có khả năng lao động, cùng những người ở hàng thừa kế thứ hai, thứ ba.

Việc truất quyền nằm trong di chúc. Vì vậy, nếu di chúc không hợp pháp hoặc bị tuyên vô hiệu, câu truất quyền cũng mất giá trị. Người bị truất quyền thường sẽ phản đối di chúc với chính lý do này. Các căn cứ thường được viện dẫn có tại bài di chúc vô hiệu.

Con của người bị truất quyền có được thế vị không

Nếu người con bị truất quyền còn sống vào thời điểm mở thừa kế, con của họ không được thế vị. Điều 652 BLDS chỉ cho thế vị khi người con chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản.

Phức tạp hơn là trường hợp người con bị truất quyền đã chết trước người lập di chúc. Điều 652 BLDS không loại trừ trường hợp này, nên có quan điểm cho rằng các cháu vẫn được thế vị trong phần chia theo pháp luật. Quan điểm khác cho rằng việc truất quyền phải được hiểu là loại cả nhánh. Vì chưa có hướng dẫn thống nhất, người lập di chúc nên ghi rõ ý chí đối với các cháu. Cơ chế thế vị được phân tích tại bài thừa kế thế vị.

Những người không được quyền hưởng di sản theo Điều 621

Bị kết án về hành vi xâm phạm người để lại di sản

Điểm a khoản 1 Điều 621 BLDS áp dụng với người bị kết án về một trong các hành vi sau đối với người để lại di sản:

  • Cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe.
  • Ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ.
  • Xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm.

Điều kiện tiên quyết là có bản án hình sự có hiệu lực pháp luật. Đơn tố cáo, biên bản của công an xã, hay lời khai của hàng xóm về việc người con đánh cha mẹ chưa đủ nếu không dẫn đến bản án. Bản án có hiệu lực là tình tiết không phải chứng minh trong vụ án dân sự (điểm b khoản 1 Điều 92 BLTTDS). Người phản đối chỉ cần nộp bản án.

Các hành vi bạo lực gia đình chưa đến mức bị kết án hình sự không thuộc điểm a. Chúng có thể được xem xét theo điểm b nếu cấu thành vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng. Biện pháp bảo vệ người cao tuổi bị bạo lực trong gia đình được trình bày tại bài bạo lực gia đình.

Vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng

Đây là căn cứ hay được viện dẫn nhất, dưới cách gọi thông thường là “con bất hiếu”. Đây cũng là căn cứ khó chứng minh nhất.

Khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật HNGĐ) quy định con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật. Nhiều con thì các con phải cùng nhau thực hiện nghĩa vụ này. Điểm b khoản 1 Điều 621 BLDS chỉ loại người “vi phạm nghiêm trọng” nghĩa vụ nuôi dưỡng. Khác với điểm a và điểm c, căn cứ này không đòi hỏi bản án hình sự.

BLDS không định nghĩa thế nào là “nghiêm trọng”. Từ thực tiễn xét xử, có thể khái quát:

Thường được coi là vi phạm nghiêm trọng

Thường không đủ để loại quyền hưởng

Có khả năng nhưng bỏ mặc cha mẹ ốm nặng, già yếu không người chăm sóc trong thời gian dàiÍt về thăm, mâu thuẫn, cãi vã
Chiếm đoạt lương hưu, tài sản của cha mẹ khiến cha mẹ lâm vào cảnh thiếu thốnĐi làm ăn xa, không trực tiếp chăm sóc nhưng có gửi tiền
Đuổi cha mẹ ra khỏi nhà, không cho ở chung khi cha mẹ không còn chỗ ởAnh chị em khác chăm sóc nhiều hơn
Đã bị cơ quan có thẩm quyền nhắc nhở, xử lý về việc không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡngChính người con cũng khó khăn, không có khả năng cấp dưỡng

Người viện dẫn căn cứ này phải chứng minh (Điều 91 BLTTDS). Chứng cứ có giá trị gồm:

  • Xác nhận của chính quyền địa phương, tổ dân phố về tình trạng cha mẹ không được chăm sóc.
  • Hồ sơ bệnh viện cho thấy không có người thân nào đứng ra.
  • Các biên bản hòa giải.
  • Lời khai của hàng xóm.
  • Thư từ, tin nhắn của cha mẹ phản ánh tình trạng bị bỏ mặc.

Nếu người để lại di sản còn minh mẫn và thực sự muốn loại một người con, cách chắc chắn hơn là lập di chúc truất quyền. Khi đó người còn lại không phải chứng minh hành vi “nghiêm trọng” sau khi người để lại di sản đã mất.

Xâm phạm tính mạng người thừa kế khác

Điểm c khoản 1 Điều 621 BLDS loại người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng một người thừa kế khác, nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản người đó có quyền hưởng. Cần đủ hai yếu tố: có bản án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, và có mục đích chiếm phần thừa kế. Một vụ tai nạn giao thông do lỗi vô ý không thuộc trường hợp này.

Hành vi xâm phạm đến di chúc

Điểm d khoản 1 Điều 621 BLDS bao gồm hai nhóm hành vi:

  • Lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc.
  • Giả mạo, sửa chữa, hủy hoặc che giấu di chúc.

Cả hai nhóm phải nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Căn cứ này không đòi hỏi bản án hình sự. Tòa án dân sự có thể tự đánh giá hành vi dựa trên chứng cứ trong vụ án, chẳng hạn kết luận giám định chữ ký, lời khai về việc ngăn không cho công chứng viên đến nhà, hay việc cố ý giấu bản di chúc gốc.

Đây là căn cứ có hậu quả nặng. Người giả mạo di chúc để hưởng nhiều hơn không chỉ mất phần trong bản giả mạo, mà mất luôn suất thừa kế theo pháp luật vốn có. Cách chứng minh di chúc giả mạo được trình bày tại bài di chúc vô hiệu.

Ngoại lệ, người để lại di sản đã biết nhưng vẫn cho hưởng

Khoản 2 Điều 621 BLDS cho phép người có hành vi thuộc khoản 1 vẫn được hưởng di sản, nếu thỏa mãn đồng thời hai điều kiện:

  1. Người để lại di sản đã biết hành vi của người đó.
  2. Người để lại di sản vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Ngoại lệ này chỉ áp dụng qua di chúc. Người cha biết con từng đánh mình đến mức bị kết án, sau đó lập di chúc cho con hưởng một phần nhà, thì người con được nhận phần đó. Nếu người cha không lập di chúc, hoặc di chúc không nhắc đến người con, người con vẫn không được chia theo pháp luật. Việc người cha có thể đã tha thứ trên thực tế cũng không thay đổi kết quả này.

Để ngoại lệ được áp dụng, di chúc nên thể hiện rằng người lập biết hành vi, hoặc di chúc được lập sau khi bản án có hiệu lực. Nếu di chúc được lập trước khi hành vi xảy ra, việc người để lại di sản “đã biết” phải được chứng minh riêng.

Hệ quả đối với phần di sản và những người khác

Khi một người bị truất quyền hoặc không được quyền hưởng di sản:

  • Phần lẽ ra của họ được chia cho những người thừa kế khác cùng hàng. Nếu họ là người duy nhất ở hàng đó, phần này chuyển xuống hàng sau (khoản 3 Điều 651 BLDS).
  • Khi họ được chỉ định trong di chúc nhưng không có quyền hưởng, phần di sản liên quan được chia theo pháp luật (điểm d khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 650 BLDS).
  • Người không được quyền hưởng theo khoản 1 Điều 621 không được bảo vệ bởi Điều 644 BLDS (khoản 2 Điều 644 BLDS). Người chỉ bị truất quyền thì vẫn được bảo vệ nếu thuộc diện tại Điều 644.
  • Con của họ không được thế vị khi họ còn sống.

Thời hạn để yêu cầu Tòa án xác định

Yêu cầu tuyên bố một người không có quyền hưởng di sản là yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác. Thời hiệu cho yêu cầu này là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 623 BLDS). Thời hiệu này ngắn hơn nhiều so với 30 năm chia bất động sản. Người muốn loại một đồng thừa kế nên đưa yêu cầu sớm, thường ngay trong vụ án chia di sản. Các mốc thời hiệu được phân tích tại bài thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế.

Câu hỏi thường gặp

Có. Người lập di chúc có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế mà không cần nêu lý do (khoản 1 Điều 626 BLDS). Tuy nhiên, con chưa thành niên hoặc con thành niên không có khả năng lao động vẫn được hưởng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật (Điều 644 BLDS).

Có, trừ hai trường hợp. Thứ nhất, người con bị truất quyền bằng di chúc hợp pháp. Thứ hai, người con thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản tại khoản 1 Điều 621 BLDS, chẳng hạn vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc bị kết án về hành vi ngược đãi nghiêm trọng cha mẹ. “Bất hiếu” theo nghĩa thông thường, như ít thăm hỏi hay mâu thuẫn, không đủ để mất quyền thừa kế.

Việc truất quyền nằm trong di chúc, nên chỉ cần di chúc đáp ứng các điều kiện hình thức tại Điều 630 đến Điều 636 BLDS. Công chứng không bắt buộc. Nhưng với nội dung dễ gây tranh chấp như truất quyền, công chứng giúp hạn chế việc di chúc bị phản đối về năng lực và sự tự nguyện của người lập. Xem bài di chúc hợp pháp.

Không, nếu di chúc ghi rõ việc truất quyền. Theo khoản 3 Điều 651 BLDS, người bị truất quyền không được hưởng trong phần chia theo pháp luật. Nếu di chúc chỉ không nhắc tên người đó, họ vẫn được chia phần di sản áp dụng thừa kế theo pháp luật.

Không theo điểm a khoản 1 Điều 621 BLDS, vì căn cứ này đòi hỏi bản án. Hành vi đó có thể được xem xét theo điểm b, nếu cấu thành vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng và được chứng minh. Người để lại di sản cũng có thể lập di chúc truất quyền.

Lời khuyên cho người lập di chúc và người thừa kế

Với người lập di chúc, truất quyền là công cụ rõ ràng và chắc chắn hơn nhiều so với việc trông chờ Tòa án áp dụng Điều 621 sau này. Câu truất quyền nên được viết rõ tên, kèm một dòng lý do ngắn gọn. Lý do không bắt buộc, nhưng giúp giảm nguy cơ di chúc bị phản đối là thiếu sáng suốt hoặc bị tác động.

Với những người thừa kế muốn loại một người khỏi việc chia di sản, cần xác định trước căn cứ nào khả thi. Bản án hình sự là chứng cứ mạnh nhất. Vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng cần chuẩn bị chứng cứ kỹ lưỡng, tốt nhất từ khi người để lại di sản còn sống.

Đội ngũ luật sư thừa kế của chúng tôi tư vấn soạn điều khoản truất quyền, đánh giá căn cứ Điều 621 BLDS, và đại diện trong các vụ tranh chấp về tư cách người thừa kế.

Phân chia di sản không chỉ là thủ tục — đó là việc bảo toàn tài sản và gìn giữ quan hệ gia đình qua các thế hệ. Luật Quốc Ấn tư vấn lập di chúc, khai nhận di sản và cấu trúc chuyển giao tài sản an toàn về pháp lý.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698