Nợ chung của vợ chồng, nợ riêng và trách nhiệm liên đới
Chữ ký trên hợp đồng vay cho biết ai đã vay, nhưng không trả lời hết câu hỏi ai phải trả. Người vợ không ký vẫn có thể phải trả khoản chồng vay để sửa nhà. Ngược lại, người chồng không phải gánh khoản vợ vay để chơi hụi hay đầu tư riêng, dù hai người đang là vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình không phân loại nợ theo chữ ký hay theo tình trạng hôn nhân. Luật phân loại theo nguồn gốc nghĩa vụ và mục đích sử dụng tiền, và chính chỗ này tạo ra hầu hết tranh chấp giữa vợ chồng với chủ nợ.
Tóm tắt
- Nợ chung của vợ chồng gồm sáu nhóm tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nhóm quan trọng nhất là nghĩa vụ do vợ chồng cùng xác lập và nghĩa vụ do một bên thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Với các khoản nợ chung đó, vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới (khoản 2 Điều 27). Chủ nợ có quyền đòi một trong hai người trả toàn bộ.
- Nợ có trước khi cưới, nợ từ giao dịch một bên xác lập không vì nhu cầu gia đình, nợ do vi phạm pháp luật là nợ riêng (Điều 45), trả bằng tài sản riêng của người đó.
- Người chỉ ký thế chấp tài sản hoặc ký bảo lãnh không trở thành đồng vay. Họ chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản thế chấp hoặc phạm vi đã bảo lãnh.
- Ly hôn không làm mất nghĩa vụ với chủ nợ (khoản 1 Điều 60). Vợ chồng thỏa thuận “một người trả hết” chỉ ràng buộc chủ nợ khi chủ nợ đồng ý.
Chữ ký không quyết định khoản nợ là chung hay riêng
Hai sai lầm hay gặp nằm ở hai đầu ngược nhau. Một bên nghĩ “tôi không ký thì không liên quan”. Bên kia nghĩ “đã là vợ chồng thì nợ của ai cũng là nợ chung”. Cả hai đều sai.
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (sau đây gọi là Luật HNGĐ) xác định nợ chung theo căn cứ phát sinh nghĩa vụ. Một khoản vay do người chồng ký một mình vẫn là nợ chung nếu tiền được dùng để lo nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình. Một khoản vay do người vợ ký trong thời kỳ hôn nhân vẫn là nợ riêng nếu không vì nhu cầu gia đình.
Cần phân biệt câu hỏi này với câu hỏi tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng. Một căn nhà là tài sản chung của vợ chồng không có nghĩa mọi khoản vay thế chấp căn nhà đó đều là nợ chung. Hai quy tắc chạy song song và phải xét riêng.
06 nhóm nợ chung theo Điều 37 Luật HNGĐ
Nhóm | Nội dung | Ví dụ | Điều cần chứng minh |
| 1 | Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo luật vợ chồng cùng phải chịu | Cả hai cùng ký hợp đồng vay mua nhà | Chữ ký hoặc sự đồng ý của cả hai |
| 2 | Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình | Một bên vay tiền chữa bệnh cho con, đóng học phí, sửa nhà đang ở | Tiền thực sự được dùng cho nhu cầu thiết yếu |
| 3 | Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung | Thuế đất, phí bảo trì căn hộ chung; tiền phạt cọc khi bán nhà chung | Tài sản liên quan là tài sản chung |
| 4 | Nghĩa vụ phát sinh từ việc dùng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc tạo nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình | Vay vốn mở rộng cửa hàng là nguồn sống chính của gia đình | Hoạt động đó là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình |
| 5 | Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà cha mẹ phải bồi thường theo Bộ luật Dân sự | Con chưa thành niên gây tai nạn | Quan hệ cha mẹ con, thiệt hại |
| 6 | Nghĩa vụ khác theo luật có liên quan | Theo quy định chuyên ngành | Tùy trường hợp |
“Nhu cầu thiết yếu” có định nghĩa riêng: nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình (khoản 20 Điều 3 Luật HNGĐ). Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu này (khoản 1 Điều 30).
Cần lưu ý, tên gọi sản phẩm tín dụng không chứng minh mục đích. Một khoản “vay tiêu dùng” hay “vay mua sắm” chưa đủ để kết luận tiền được dùng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình. Tòa án xem tiền đã đi đâu, không xem hợp đồng đặt tên gì.
Nợ riêng theo Điều 45 Luật HNGĐ
Loại nợ riêng | Ví dụ |
| Nghĩa vụ của mỗi bên có trước khi kết hôn | Khoản vay mua xe trước ngày cưới, còn trả góp sau khi cưới |
| Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng | Thuế, phí của căn nhà riêng cho thuê |
| Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình | Vay để đầu tư riêng, góp hụi, cho người khác vay lại, chơi chứng khoán bằng tiền vay mà gia đình không biết |
| Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng | Bồi thường do gây thương tích, tiền phạt, nợ phát sinh từ cờ bạc |
Có hai ngoại lệ đối với nhóm thứ hai. Nghĩa vụ phát sinh khi bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình (khoản 4 Điều 44), hoặc nghĩa vụ phát sinh từ việc dùng tài sản riêng để duy trì, phát triển tài sản chung (khoản 4 Điều 37), không phải nợ riêng (khoản 2 Điều 45 Luật HNGĐ).
Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó (khoản 3 Điều 44 Luật HNGĐ).
Một trường hợp đặc biệt: tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung thì nghĩa vụ liên quan đến tài sản đó được thực hiện bằng tài sản chung, trừ khi vợ chồng thỏa thuận khác (khoản 3 Điều 46 Luật HNGĐ). Căn nhà riêng đang thế chấp ngân hàng mà được nhập vào tài sản chung thì khoản vay đó thường đi theo căn nhà.
Trách nhiệm liên đới
Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, giao dịch phù hợp với quy định về đại diện giữa vợ chồng, và các nghĩa vụ chung tại Điều 37 (Điều 27 Luật HNGĐ).
Theo Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS), nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ mà bên có quyền được yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ. Áp vào quan hệ vợ chồng:
- Chủ nợ có quyền khởi kiện chỉ người vợ, dù người chồng là người ký vay, và yêu cầu người vợ trả toàn bộ khoản nợ chung.
- Người đã trả toàn bộ có quyền yêu cầu người kia hoàn lại phần của họ (khoản 2 Điều 288 BLDS). Quyền này thường được đặt ra khi ly hôn.
- Liên đới không có nghĩa mỗi người chỉ trả một nửa. Việc chia đôi chỉ là chuyện nội bộ giữa hai vợ chồng.
Trách nhiệm liên đới áp dụng với nợ chung. Với nợ riêng, chủ nợ chỉ có quyền yêu cầu người mắc nợ, và xử lý tài sản theo trình tự nêu ở phần dưới.
Khoản vay chỉ một người ký, ai phải chứng minh
Khi chủ nợ khởi kiện cả hai vợ chồng về một khoản vay chỉ một người ký, chủ nợ là bên khẳng định đây là nợ chung nên phải chứng minh căn cứ, theo nguyên tắc đương sự có yêu cầu phải đưa ra chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình (Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Người vợ hoặc chồng không ký, nếu phản đối, cũng cần đưa ra chứng cứ cho phản đối của mình.
Những chứng cứ thường được Tòa án cân nhắc:
- Hợp đồng vay ghi mục đích sử dụng, và mục đích đó có thực hay không.
- Chứng từ giải ngân: tiền chuyển vào tài khoản ai, được chi trả cho ai.
- Tiền có đi vào tài sản chung hay nhu cầu gia đình không, ví dụ hóa đơn xây sửa nhà, học phí, viện phí.
- Người không ký có biết và đồng ý không, thể hiện qua tin nhắn, việc cùng trả lãi, việc cùng có mặt khi nhận tiền.
- Khoản vay có tương xứng với nhu cầu sinh hoạt thông thường của gia đình không. Khoản vay vài trăm triệu hay vài tỷ đồng khó được coi là “nhu cầu thiết yếu” nếu không có tài sản hoặc chi tiêu tương ứng.
Các khoản vay qua ứng dụng trực tuyến, vay nóng lãi cao mà gia đình không biết, hoặc vay để cờ bạc, thường bị xác định là nợ riêng. Nếu nghi chữ ký hoặc mã xác thực bị giả, người bị đòi có quyền yêu cầu bên cho vay xuất trình dữ liệu xác thực và chứng từ giải ngân, và đề nghị Tòa án trưng cầu giám định.
Một lưu ý khi làm việc với chủ nợ: ký giấy “xác nhận nợ” có thể biến một khoản nợ riêng của người kia thành nghĩa vụ của chính mình, nếu nội dung thể hiện việc nhận trả nợ. Cần phân biệt văn bản chỉ xác nhận một sự kiện với văn bản cam kết nhận thêm nghĩa vụ mới. Khi đã bị khởi kiện hoặc bị chủ nợ gây áp lực ký giấy tờ, nên để luật sư hôn nhân và gia đình đọc văn bản trước khi ký bất cứ thứ gì.
Vay để kinh doanh
Vay vốn kinh doanh là vùng tranh chấp nhiều nhất. Quy tắc cần áp dụng:
- Vợ chồng kinh doanh chung thì người trực tiếp tham gia là đại diện hợp pháp của người kia trong quan hệ kinh doanh đó (khoản 1 Điều 25 Luật HNGĐ). Khoản vay phục vụ việc kinh doanh chung thường là nợ chung.
- Vợ chồng thỏa thuận bằng văn bản cho một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người đó được tự mình giao dịch liên quan đến tài sản đó (Điều 36). Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản chung là nợ chung theo khoản 3 Điều 37.
- Hoạt động kinh doanh là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình thì khoản vay để duy trì nó thường là nợ chung theo khoản 4 Điều 37.
- Một bên kinh doanh riêng, lợi nhuận không đưa về gia đình, gia đình không biết, thì khoản vay thường là nợ riêng theo khoản 3 Điều 45.
Không nên mặc định mọi khoản vay kinh doanh của một bên là nợ chung, cũng không mặc định là nợ riêng. Câu hỏi quyết định vẫn là lợi ích từ hoạt động kinh doanh có quay về gia đình hay không.
Bảo lãnh và thế chấp không phải là đồng vay
Ba vai trò trong một hồ sơ tín dụng có trách nhiệm khác nhau:
Vai trò | Trách nhiệm | Căn cứ |
| Bên vay, đồng vay | Trả toàn bộ nợ gốc, lãi theo hợp đồng | Hợp đồng vay; Điều 27, 37 Luật HNGĐ nếu là nợ chung |
| Người bảo lãnh | Thực hiện nghĩa vụ thay khi bên vay không thực hiện, trong phạm vi đã cam kết bảo lãnh | Điều 335 BLDS |
| Người thế chấp | Dùng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ; tài sản bị xử lý để thu nợ nếu bên vay không trả. Theo cách hiểu được áp dụng phổ biến trong thực tiễn, người chỉ ký thế chấp cho nghĩa vụ của người khác không phải trả phần nợ còn thiếu sau khi xử lý tài sản, trừ khi có cam kết khác | Điều 317 BLDS (định nghĩa thế chấp); phần còn lại là thực tiễn áp dụng |
Tình huống thường gặp: người chồng vay vốn cho công ty riêng của mình, ngân hàng yêu cầu thế chấp căn nhà chung, người vợ ký hợp đồng thế chấp. Người vợ ký với tư cách đồng chủ sở hữu tài sản thế chấp, vì việc định đoạt bất động sản chung phải có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (điểm a khoản 2 Điều 35 Luật HNGĐ). Nếu khoản vay không trả được, căn nhà có thể bị xử lý. Nhưng nếu giá bán nhà không đủ trả nợ, người vợ không tự động phải trả phần còn thiếu chỉ vì đã ký thế chấp.
Trước khi ký, nên đọc kỹ hợp đồng. Nhiều mẫu hợp đồng thế chấp của ngân hàng có điều khoản người thế chấp cam kết cùng chịu trách nhiệm trả nợ. Ký điều khoản đó là tự nhận thêm một nghĩa vụ độc lập.
Chủ nợ của một bên có được xử lý tài sản chung không
Nợ riêng trước hết được thanh toán bằng tài sản riêng của người mắc nợ (khoản 3 Điều 44 Luật HNGĐ). Khi tài sản riêng không đủ, chủ nợ có quyền yêu cầu chia tài sản chung để lấy phần của người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ, và tham gia vào việc chia đó (khoản 2 Điều 219 BLDS). Yêu cầu phân chia tài sản chung để thi hành án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (khoản 9 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Phần của người kia trong khối tài sản chung không bị dùng để trả nợ riêng.
Vợ chồng có thể tính đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Nhưng việc chia nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức sẽ bị vô hiệu (điểm d khoản 2 Điều 42 Luật HNGĐ). Quyền và nghĩa vụ với người thứ ba phát sinh trước thời điểm chia vẫn có hiệu lực (khoản 4 Điều 39). Chia tài sản sau khi đã phát sinh khoản nợ không tự động bị coi là trốn nợ, nhưng chủ nợ có cơ sở để yêu cầu Tòa án xem xét.
Nợ khi ly hôn
Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ khi vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 60 Luật HNGĐ). Tranh chấp được giải quyết theo các điều 27, 37, 45 Luật HNGĐ và BLDS (khoản 2 Điều 60).
Ba điểm thực tế:
- Vợ chồng có thể thỏa thuận ai trả khoản nợ nào, và Tòa án có thể ghi nhận thỏa thuận đó khi chia tài sản. Nhưng thỏa thuận này chỉ có hiệu lực giữa hai người. Muốn chuyển nghĩa vụ trả nợ ngân hàng sang một người thì phải được ngân hàng đồng ý (khoản 1 Điều 370 BLDS). Không có sự đồng ý đó, ngân hàng vẫn được đòi cả hai.
- Khi chia tài sản chung, Tòa án phải xác định vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba không để đưa họ vào tố tụng. Người thứ ba có yêu cầu thì Tòa giải quyết luôn. Không có yêu cầu thì Tòa hướng dẫn giải quyết bằng vụ án khác (khoản 3 Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP).
- Nợ chung thường được trừ vào giá trị khối tài sản chung trước khi chia, hoặc giao cho bên nhận tài sản gắn với khoản nợ đó, như bên nhận căn nhà đang thế chấp thì tiếp tục trả khoản vay. Cách Tòa tính phần còn lại cho mỗi bên được phân tích tại bài chia tài sản khi ly hôn.
Trình tự đưa yêu cầu về nợ vào vụ ly hôn được trình bày trong bài thủ tục ly hôn. Nếu trong lúc chờ xét xử, một bên đem tài sản chung đi thế chấp vay thêm hoặc bán để trả nợ riêng, người kia có thể đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi ly hôn.
Khi một bên qua đời
Khi một bên chết, tài sản chung được chia đôi khi có yêu cầu chia di sản, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản (khoản 2 Điều 66 Luật HNGĐ). Với nợ:
- Nợ chung vẫn là nghĩa vụ liên đới. Người còn sống vẫn có thể bị chủ nợ yêu cầu trả toàn bộ.
- Nợ riêng của người chết được thực hiện bằng di sản. Những người thừa kế chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi di sản, không phải trả bằng tài sản riêng của mình (khoản 1 Điều 615 BLDS). Di sản đã chia thì mỗi người trả tương ứng nhưng không vượt quá phần mình nhận (khoản 3 Điều 615).
Khi không có hôn nhân hợp pháp
Cơ chế nợ chung và trách nhiệm liên đới tại Điều 27, Điều 37 chỉ áp dụng cho vợ chồng có đăng ký kết hôn. Nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn thì khoản vay của ai người đó chịu với chủ nợ, trừ khi cả hai cùng ký hoặc có thỏa thuận khác (Điều 16 Luật HNGĐ).
Hồ sơ nên lưu giữ
Nhóm | Tài liệu |
| Khoản vay | Hợp đồng vay, phụ lục, giấy nhận nợ, lịch trả nợ |
| Dòng tiền | Chứng từ giải ngân, sao kê thể hiện tiền được dùng vào việc gì |
| Mục đích sử dụng | Hóa đơn xây sửa nhà, học phí, viện phí, hợp đồng mua tài sản bằng tiền vay |
| Bảo đảm | Hợp đồng thế chấp, cam kết bảo lãnh, xác nhận đăng ký biện pháp bảo đảm |
| Thay đổi nghĩa vụ | Văn bản đồng ý của chủ nợ về việc chuyển nghĩa vụ, văn bản thỏa thuận giữa vợ chồng, bản án, quyết định ly hôn hoặc chia tài sản |
Câu hỏi thường gặp
Chồng vay tiền, vợ không ký, vợ có phải trả không?
Phải trả nếu khoản vay dùng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc thuộc các nhóm nợ chung khác tại Điều 37 Luật HNGĐ. Không phải trả nếu đó là nợ riêng theo Điều 45, như vay để kinh doanh riêng không vì gia đình, vay để cờ bạc. Người đòi nợ phải chứng minh mục đích sử dụng khoản vay.
Chủ nợ có được đòi một mình tôi trả toàn bộ khoản nợ chung không?
Được. Vợ chồng chịu trách nhiệm liên đới với nợ chung (khoản 2 Điều 27 Luật HNGĐ), nên chủ nợ có quyền yêu cầu một người trả toàn bộ. Người đã trả có quyền yêu cầu người kia hoàn lại phần của họ (khoản 2 Điều 288 BLDS).
Ly hôn rồi thì nợ ngân hàng chung xử lý thế nào?
Tôi chỉ ký thế chấp nhà cho khoản vay của chồng, tôi có phải trả nợ không?
Nợ có từ trước khi cưới có trở thành nợ chung không?
Vợ chồng chia tài sản để khỏi bị chủ nợ xử lý có được không?
Với nợ, thời điểm lên tiếng rất quan trọng: phản đối ngay khi bị đòi và giữ được chứng từ về dòng tiền thì dễ hơn nhiều so với việc chứng minh lại sau vài năm. Nếu anh chị đang bị chủ nợ của vợ hoặc chồng đòi tiền, hoặc cần tách bạch nợ trong vụ ly hôn, có thể liên hệ dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình để được xem xét hồ sơ cụ thể.
