Thời hiệu yêu cầu thi hành án và cách xử lý khi đã quá hạn
Câu hỏi chúng tôi nhận được thường xuyên từ khách hàng đó là “bản án từ năm 2020, giờ còn đòi được không?”. Câu trả lời phụ thuộc vào ba thứ: ngày bản án có hiệu lực, từng khoản nghĩa vụ đến hạn vào lúc nào, và trong năm năm qua có sự kiện nào khiến người đó không thể nộp đơn. Đếm năm từ ngày tuyên án rồi kết luận “hết rồi” là cách tính dễ sai nhất.
Tóm tắt
- Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, tính từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc từ ngày nghĩa vụ đến hạn (khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15).
- Nghĩa vụ trả theo định kỳ hoặc theo từng thời hạn có thời hiệu riêng cho từng kỳ (khoản 1 Điều 10 Nghị định 152/2026/NĐ-CP).
- Thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu nếu chứng minh được. Hồ sơ chứng minh theo Điều 3 Nghị định 152/2026/NĐ-CP.
- Yêu cầu thi hành án trở lại sau khi cơ quan thi hành án đã gửi lại yêu cầu theo khoản 4 Điều 38 Luật THADS 2025 thì không bị tính thời hiệu.
- Hết thời hiệu, đương sự mất quyền yêu cầu cơ quan, văn phòng thi hành án tổ chức thi hành. Bản án vẫn còn hiệu lực, bên phải thi hành án vẫn có thể tự nguyện trả.
05 năm tính từ mốc nào
Luật đưa ra hai mốc và người yêu cầu phải chọn đúng mốc cho từng khoản. Thời hiệu chỉ là chặng đầu tiên; vị trí của nó trong cả hồ sơ được mô tả tại bài quy trình thi hành án dân sự.
Mốc thứ nhất là ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Mốc này áp dụng cho nghĩa vụ phải thực hiện ngay, ví dụ trả một khoản tiền cụ thể, giao một căn nhà. Ngày có hiệu lực không trùng ngày tuyên án trong nhiều trường hợp:
Loại bản án | Thời điểm có hiệu lực |
| Bản án phúc thẩm | Ngày tuyên án phúc thẩm |
| Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị | Ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng kể từ ngày tuyên án, nên bản án sơ thẩm thường có hiệu lực muộn hơn ngày tuyên khoảng một tháng |
| Phần bản án sơ thẩm không bị kháng cáo khi phần khác bị kháng cáo | Phần không bị kháng cáo có hiệu lực riêng khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị |
| Quyết định công nhận sự thỏa thuận, công nhận hòa giải thành | Có hiệu lực ngay khi ban hành |
Trong thực tế, người yêu cầu có thể đề nghị Tòa án đã xử sơ thẩm xác nhận ngày bản án có hiệu lực. Nhiều bản án được đóng dấu “đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày…” trên bản trích lục giao cho đương sự.
Mốc thứ hai là ngày nghĩa vụ đến hạn. Bản án có thể tuyên “trả trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực”, hoặc chia thành nhiều đợt. Khi đó thời hiệu cho khoản đó chỉ bắt đầu chạy khi đến hạn trả.
Nghĩa vụ theo kỳ: mỗi kỳ là một thời hiệu
Khoản 1 Điều 10 Nghị định 152/2026/NĐ-CP quy định với bản án tuyên nghĩa vụ theo định kỳ hoặc theo thời hạn, thời hiệu áp dụng cho từng kỳ, từng thời hạn kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Lấy ví dụ một quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực tháng 01/2019, người cha phải cấp dưỡng 3 triệu đồng mỗi tháng. Tháng 10/2026, người mẹ mới nộp đơn. Các kỳ từ tháng 01/2019 đến khoảng tháng 9/2021 đã quá 05 năm và bị coi là hết thời hiệu, trừ khi chứng minh được trở ngại khách quan. Các kỳ từ tháng 10/2021 trở về sau vẫn yêu cầu được. Mức cấp dưỡng, cách thỏa thuận và các thay đổi về mức xem tại bài cấp dưỡng nuôi con.
Quy tắc này cũng áp dụng cho bản án công nhận thỏa thuận trả nợ góp nhiều đợt và bản án tuyên trả lãi theo từng kỳ. Người được thi hành án nên nộp đơn ngay từ kỳ đầu tiên bị chậm, vì cơ quan thi hành án sẽ khai thác bản án đã tiếp nhận để ra quyết định cho các kỳ tiếp theo mà không cần nộp lại bản án.
Bản án có điều kiện thi hành
Có bản án chỉ thi hành được khi xảy ra một sự kiện, ví dụ khi một bên hoàn thành thủ tục tách thửa hoặc khi tài sản được giải chấp. Khoản 3 Điều 34 Luật THADS 2025 quy định thời hạn ra quyết định thi hành án trong trường hợp này là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin về điều kiện đó. Về thời hiệu, nghĩa vụ chỉ đến hạn khi điều kiện được đáp ứng, vì vậy người yêu cầu nên lưu giữ chứng cứ về thời điểm điều kiện xảy ra.
Thời gian không bị tính vào thời hiệu
Đoạn 2 khoản 2 Điều 34 Luật THADS 2025 cho phép trừ khỏi thời hiệu khoảng thời gian có tình trạng khẩn cấp, trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng, nếu người yêu cầu chứng minh được chính sự kiện đó làm họ không thể yêu cầu đúng hạn. Điều kiện then chốt nằm ở mối liên hệ: có sự kiện xảy ra chưa đủ, phải chỉ ra vì sự kiện đó mà không nộp được đơn.
Khoản 2 Điều 3 Nghị định 152/2026/NĐ-CP quy định tài liệu chứng minh là bản gốc, bản sao có chứng thực hoặc dữ liệu điện tử, cụ thể theo từng trường hợp:
Lý do không thể yêu cầu đúng hạn | Tài liệu chứng minh |
| Tình trạng khẩn cấp | Văn bản ban bố, công bố của cơ quan có thẩm quyền theo Luật Tình trạng khẩn cấp |
| Bất khả kháng, trở ngại khách quan tại địa phương; đương sự chết chưa xác định được người thừa kế | Xác nhận của UBND cấp xã nơi người đó cư trú cuối cùng hoặc nơi cư trú khi xảy ra sự kiện |
| Tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức | Hồ sơ bệnh án hoặc bản sao có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên |
| Đi công tác | Xác nhận của thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc giấy cử đi công tác |
| Lỗi của Tòa án, cơ quan thi hành án | Xác nhận của cơ quan ra bản án hoặc cơ quan thi hành án có thẩm quyền |
| Tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, chuyển đổi | Văn bản chứng minh khoảng thời gian chưa xác định được chủ thể mới có quyền yêu cầu |
| Trở ngại khách quan khác | Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc tài liệu hợp pháp khác |
Khoản 3 Điều 3 còn yêu cầu xác nhận phải thể hiện rõ địa điểm, nội dung và thời gian xảy ra sự kiện. Giấy xác nhận chỉ ghi chung chung “hoàn cảnh khó khăn” hoặc “đi làm ăn xa” gần như không được chấp nhận.
Trường hợp “lỗi của Tòa án” gặp khá nhiều trong thực tế: đương sự vắng mặt khi tuyên án và Tòa án không tống đạt bản án cho họ. Người được thi hành án không biết bản án đã có hiệu lực để yêu cầu. Muốn dùng căn cứ này, cần xin Tòa án xác nhận việc chưa giao bản án hoặc ngày giao bản án thực tế.
Thủ tục xin chấp nhận yêu cầu quá hạn
Khoản 2 Điều 10 Nghị định 152/2026/NĐ-CP cho phép đương sự đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xem xét chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu quá hạn. Hồ sơ gồm đơn yêu cầu theo mẫu D01-THADS (Thông tư 06/2026/TT-BTP), trong đó nêu rõ lý do quá hạn, kèm tài liệu chứng minh nói trên. Cách viết đơn, nơi nộp và thời hạn xử lý chung xem tại bài thủ tục yêu cầu thi hành án.
Nếu Thủ trưởng không chấp nhận và thông báo từ chối vì hết thời hiệu, người yêu cầu có quyền khiếu nại trong 15 ngày theo điểm a khoản 2 Điều 96 Luật THADS 2025. Cách viết đơn và người giải quyết xem tại bài khiếu nại thi hành án dân sự.
Những trường hợp không tính thời hiệu
Yêu cầu trở lại sau khi cơ quan thi hành án đã gửi lại yêu cầu. Đây là cơ chế mới của Luật THADS 2025. Khi người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành suốt 02 năm và không có thông tin mới, cơ quan thi hành án gửi lại yêu cầu cho người đã nộp đơn (khoản 4 Điều 38). Sau đó, bất cứ khi nào phát hiện người phải thi hành án có tài sản, người được thi hành án có thể yêu cầu trở lại mà không lo thời hiệu (đoạn 3 khoản 2 Điều 34). Điều kiện là phải nộp kèm tài liệu chứng minh người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành (khoản 2 Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP). Quy trình gửi lại và yêu cầu trở lại được phân tích tại bài chưa có điều kiện thi hành án.
Yêu cầu trở lại sau khi chấm dứt hợp đồng với văn phòng thi hành án dân sự. Điều 39 Nghị định 151/2026/NĐ-CP quy định người yêu cầu được yêu cầu trở lại mà không tính thời hiệu khi việc thi hành tại văn phòng đã chấm dứt theo thỏa thuận hoặc do chưa có điều kiện thi hành (điểm b, c khoản 5 Điều 31 Luật THADS 2025). Đơn yêu cầu trở lại phải nêu kết quả đã thi hành, phần còn đề nghị tiếp tục và tài liệu liên quan.
Khoản cơ quan thi hành án phải chủ động thi hành. Án phí, tiền phạt, truy thu nộp ngân sách và các khoản thuộc khoản 2 Điều 33 Luật THADS 2025 không cần đơn yêu cầu, nên không đặt ra thời hiệu yêu cầu. Riêng hình phạt tiền trong bản án hình sự còn chịu thời hiệu thi hành bản án hình sự tại Điều 60 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017 và các lần sau), là 05 năm với người bị phạt tiền.
Ba mốc “05 năm” dễ nhầm với nhau
Người cầm bản án thường gặp nhiều quy định cùng mốc 05 năm nhưng bản chất khác nhau. Bảng dưới đây giúp tách bạch:
Quy định | Nội dung | Căn cứ |
| Thời hiệu yêu cầu thi hành án | Hết 05 năm thì mất quyền yêu cầu cơ quan, văn phòng thi hành án tổ chức thi hành | Khoản 2 Điều 34 Luật THADS 2025 |
| Tiền được trả lại mà đương sự không đến nhận | Hết 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực mà không nhận thì bị sung quỹ nhà nước | Đoạn 5 khoản 1 Điều 59 Luật THADS 2025 |
| Xét miễn nghĩa vụ nộp ngân sách | Hết 05 năm từ ngày ra quyết định thi hành án, phần còn lại dưới 5 triệu đồng thì người phải thi hành án có thể được xét miễn | Điểm b khoản 1 Điều 42 Luật THADS 2025 |
Thời hiệu khởi kiện là một khái niệm khác hẳn. Ví dụ, thời hiệu khởi kiện chia di sản là 30 năm với bất động sản theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, được phân tích tại bài thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế. Khi đã có bản án chia di sản, quyền yêu cầu thi hành bản án đó chỉ còn 05 năm.
Hết thời hiệu thì còn làm được gì
Theo khoản 5 Điều 3 Luật THADS 2025, hết thời hiệu thì đương sự không còn quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Cơ quan sẽ từ chối theo điểm d khoản 4 Điều 34.
Bản án không mất hiệu lực vì lý do đó. Nếu bên phải thi hành án tự nguyện trả, người được thi hành án vẫn nhận bình thường. Các bên cũng có thể lập thỏa thuận mới về việc trả nợ, và thỏa thuận này là một giao dịch dân sự mới có thể khởi kiện nếu bị vi phạm. Đây là hướng xử lý chúng tôi thường đề xuất khi bên kia vẫn còn thiện chí nhưng hồ sơ đã quá hạn.
Không nên nộp đơn khởi kiện lại đúng nội dung bản án cũ. Tòa án sẽ trả đơn vì sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực.
Tình huống thực tiễn
Ông T. có bản án phúc thẩm tuyên ngày 12/4/2021, buộc công ty X trả 800 triệu đồng. Tháng 6/2026, ông mới tìm đến luật sư. Thời điểm đó ông đã vượt mốc 05 năm khoảng hai tháng.
Rà lại hồ sơ, chúng tôi thấy trong năm 2023 ông T. bị tai nạn giao thông, điều trị dài ngày, có giai đoạn hôn mê gần ba tháng. Bệnh viện tỉnh còn lưu hồ sơ bệnh án. Ba tháng này được trừ khỏi thời hiệu theo điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, đưa yêu cầu của ông về lại trong hạn. Đơn được nộp kèm bản sao hồ sơ bệnh án có xác nhận của bệnh viện. Điểm mấu chốt là hồ sơ thể hiện ông mất khả năng nhận thức chứ không chỉ “bị thương”. Nếu chỉ là điều trị ngoại trú, căn cứ này gần như không đứng được.
Câu hỏi thường gặp
Bản án quá 5 năm còn thi hành được không?
Thời hiệu tính từ ngày tuyên án hay ngày nhận bản án?
Nộp đơn rồi rút thì thời hiệu tính thế nào?
Luật không có quy định riêng giúp thời hiệu được tính lại khi rút đơn. Nếu sau khi có quyết định thi hành án mà người được thi hành án yêu cầu đình chỉ theo khoản 4 Điều 48 Luật THADS 2025, họ mất quyền yêu cầu trở lại với nội dung đã đình chỉ.
Cấp dưỡng nợ nhiều năm thì đòi được bao nhiêu kỳ?
Cơ quan thi hành án gửi lại đơn cho tôi thì có mất quyền không?
Tính thời hiệu thi hành án hiếm khi chỉ là phép cộng năm. Với hồ sơ đã sát hoặc vượt mốc, việc rà từng khoản, từng kỳ và tìm căn cứ trừ thời gian thường quyết định người được thi hành án còn thu được bao nhiêu. Anh chị có thể gửi bản án để luật sư dân sự của chúng tôi kiểm tra trước khi nộp đơn.
