Không trả tiền cấp dưỡng, từ thi hành án đến trách nhiệm hình sự

Khi người cũ ngừng chuyển tiền cấp dưỡng, nhiều người tìm đến Công an phường trước tiên. Thường đó là chỗ đi sai đầu tiên. Công an không thu tiền cấp dưỡng hộ ai, và nếu chưa có quyết định thi hành án, chưa từng bị xử phạt, thì cũng chưa có căn cứ nào để nói đến trách nhiệm hình sự. Con đường thu được tiền đi qua cơ quan thi hành án dân sự. Xử phạt hành chính và truy cứu hình sự là công cụ gây sức ép, có điều kiện riêng, và chỉ phát huy tác dụng khi đi đúng thứ tự.

Tóm tắt

  • Đã có bản án, quyết định của Tòa án về cấp dưỡng mà bên kia không trả: yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Thời hiệu là 05 năm kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn, tính cho từng kỳ (khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025).
  • Chưa có bản án, quyết định, hoặc chỉ có giấy tay, văn bản công chứng: chưa thi hành án được. Phải khởi kiện để Tòa xác lập nghĩa vụ trước.
  • Với án cấp dưỡng, cơ quan thi hành án có thể trừ thẳng vào lương, khấu trừ tài khoản ngân hàng, thu tiền kinh doanh, kê biên tài sản. Tiền cấp dưỡng được thanh toán ở hàng ưu tiên đầu tiên (điểm a khoản 1 Điều 54 Luật THADS 2025).
  • Từ chối, trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau ly hôn bị phạt từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng và buộc thực hiện nghĩa vụ (điểm b khoản 1 Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP). Trì hoãn thi hành án khi có điều kiện bị phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng (điểm c khoản 3 Điều 65 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
  • Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi đủ điều kiện của Điều 186 (tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng) hoặc Điều 380 (tội không chấp hành án) Bộ luật Hình sự 2015. Khung cơ bản của cả hai tội có mức tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Xác định hồ sơ đang ở bước nào

Hồ sơ đang có

Có thi hành án được không

Việc cần làm

Bản án, quyết định có hiệu lực, ghi rõ người trả, người nhận, mức tiền, kỳ trảCóNộp yêu cầu thi hành án
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có thỏa thuận cấp dưỡng; quyết định công nhận sự thỏa thuận; quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa ánCóNộp yêu cầu thi hành án
Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡngCó, thi hành ngayCơ quan thi hành án thi hành ngay, không có thời hạn tự nguyện 10 ngày
Bản án có phần cấp dưỡng nhưng diễn đạt không rõ (không ghi kỳ trả, không ghi người nhận)Chưa thuận lợiYêu cầu Tòa đã xử giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ (Điều 486 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015)
Thỏa thuận viết tay hoặc công chứng, tin nhắn hứa trảKhôngKhởi kiện hoặc yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành
Bản án ly hôn không giải quyết cấp dưỡngKhôngKhởi kiện yêu cầu cấp dưỡng

Cách khởi kiện, nộp đơn ở Tòa nào, xin Tòa buộc cấp dưỡng trước trong lúc chờ xét xử được trình bày tại bài khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng. Giá trị của văn bản thỏa thuận viết tay và công chứng được phân tích tại bài cấp dưỡng nuôi con.

Văn bản công chứng thỏa thuận cấp dưỡng không có trong danh mục bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật THADS 2025). Đây là điểm nhiều người mất thời gian vì không biết.

Yêu cầu thi hành án cấp dưỡng

Nộp yêu cầu

Người được thi hành án, tức người được cấp dưỡng hoặc người đại diện hợp pháp của con chưa thành niên, có quyền yêu cầu thi hành án. Yêu cầu có thể nộp trên môi trường số, nộp đơn trực tiếp, trình bày bằng lời nói hoặc gửi qua bưu điện (khoản 1 Điều 34 Luật THADS 2025). Hồ sơ nên có:

  • Đơn yêu cầu thi hành án, ghi rõ khoản nào đã nhận, khoản nào còn thiếu.
  • Bản án, quyết định có ghi “để thi hành” hoặc bản sao hợp lệ.
  • Giấy tờ tùy thân của người yêu cầu, giấy khai sinh của con.
  • Bảng theo dõi từng kỳ: kỳ nào, phải trả bao nhiêu, đã nhận bao nhiêu, còn thiếu bao nhiêu, chứng từ nào.
  • Mọi thông tin đang có về nơi làm việc, tài khoản ngân hàng, tài sản, cơ sở kinh doanh của người phải thi hành án.

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận yêu cầu và bản án (khoản 3 Điều 34 Luật THADS 2025). Với án cấp dưỡng trả theo tháng, quý, cơ quan thi hành án ra một quyết định cho các kỳ đã đến hạn hoặc sẽ đến hạn trong năm thi hành án (khoản 2 Điều 11 Nghị định 152/2026/NĐ-CP). Người phải thi hành án chỉ bị buộc trả các kỳ đã đến hạn, trừ khi tự nguyện trả trước.

Thời hiệu tính theo từng kỳ

Thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn (khoản 2 Điều 34 Luật THADS 2025). Với cấp dưỡng hằng tháng, mỗi tháng là một nghĩa vụ đến hạn riêng. Theo cách hiểu của chúng tôi, kỳ tháng 01/2021 đã hết thời hiệu vào tháng 01/2026, dù kỳ tháng 12/2021 vẫn còn. Không nên chờ cộng dồn nhiều năm rồi mới nộp một lần.

Thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khiến không thể yêu cầu không tính vào thời hiệu. Trường hợp cơ quan thi hành án đã gửi lại yêu cầu vì người phải thi hành án chưa có điều kiện, khi yêu cầu thi hành trở lại thì không tính thời hiệu (khoản 2 Điều 34 Luật THADS 2025).

10 ngày tự nguyện, rồi cưỡng chế

Người phải thi hành án có 10 ngày tự nguyện thi hành kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án (khoản 1 Điều 36 Luật THADS 2025). Hết thời hạn này mà không trả, trong 09 ngày Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án (khoản 1 Điều 37). Người phải thi hành án có nghĩa vụ kê khai trung thực tài sản, thu nhập.

Người được thi hành án cũng có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, và cung cấp thông tin cho cơ quan thi hành án. Nếu kết quả xác minh của Chấp hành viên khác với thông tin do người được thi hành án cung cấp, Chấp hành viên phải xác minh lại trong 05 ngày làm việc (khoản 5 Điều 37 Luật THADS 2025). Theo kinh nghiệm, một ảnh chụp bảng hiệu cửa hàng, một tin tuyển dụng có tên người phải thi hành án làm quản lý, một sao kê cũ có số tài khoản là những thông tin rất có ích cho Chấp hành viên.

Hai bên vẫn có thể thỏa thuận về việc thi hành án, ví dụ trả dần khoản nợ cũ kèm trả đúng hạn các kỳ mới. Thỏa thuận phải lập thành văn bản. Nếu bên kia không làm đúng thỏa thuận, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành phần còn lại theo bản án (khoản 2 Điều 36 Luật THADS 2025).

Cơ quan thi hành án thu tiền bằng cách nào

Luật THADS 2025 cho phép áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế (Điều 71). Với nghĩa vụ trả tiền cấp dưỡng, các biện pháp thực tế nhất là:

Biện pháp

Nội dung

Căn cứ

Trừ vào thu nhậpCơ quan, người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội trừ thẳng vào lương, lương hưu, trợ cấp để chuyển cho người được thi hành án. Thi hành án cấp dưỡng là trường hợp được áp dụng biện pháp nàyĐiểm c khoản 2, khoản 4 Điều 76 Luật THADS 2025
Khấu trừ tiền trong tài khoảnNgân hàng khấu trừ ngay khi nhận quyết định, chuyển cho cơ quan thi hành án hoặc người được thi hành ánĐiều 73 Luật THADS 2025
Thu tiền từ kinh doanhÁp dụng với người có thu nhập từ kinh doanh, phải để lại số tiền tối thiểu cho kinh doanh và sinh hoạtKhoản 1 Điều 74 Luật THADS 2025
Thu tiền do người thứ ba đang giữNgười thứ ba giữ tiền của người phải thi hành án phải giao nộpKhoản 3 Điều 74 Luật THADS 2025
Kê biên, xử lý tài sảnÁp dụng khi các biện pháp trên không đủĐiều 78 Luật THADS 2025

Khi trừ vào thu nhập, Chấp hành viên phải để lại cho người phải thi hành án số tiền bằng 01 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng nơi người đó thực tế sinh sống, và thêm 01 lần mức lương tối thiểu vùng cho mỗi người mà họ đang nuôi dưỡng, căn cứ danh sách người phụ thuộc đã được cơ quan thuế xác nhận (khoản 1 Điều 51 Nghị định 152/2026). Thu nhập thấp hơn mức phải để lại thì không trừ.

Ngoài ra, người chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án có thể bị tạm hoãn xuất cảnh (Điều 70 Luật THADS 2025). Biện pháp này đặc biệt có tác dụng với người đang chuẩn bị đi lao động hoặc định cư ở nước ngoài. Khi người phải thi hành án có tài sản, thu nhập ở nước ngoài, thủ tục phức tạp hơn nhiều; một số vấn đề liên quan được trình bày tại bài ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Tiền thu được được thanh toán theo thứ tự. Tiền cấp dưỡng đứng ở hàng thứ nhất, cùng với tiền lương, tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, trước cả án phí và tiền phạt (điểm a khoản 1 Điều 54 Luật THADS 2025). Một người vừa nợ ngân hàng theo bản án, vừa nợ tiền cấp dưỡng thì khoản cấp dưỡng được trả trước, trừ trường hợp xử lý tài sản đang thế chấp cho chính bên nhận thế chấp.

Thi hành án cấp dưỡng khác hẳn thi hành án giao con. Nghĩa vụ giao con có quy trình cưỡng chế riêng, được trình bày tại bài cưỡng chế giao con.

Khi hồ sơ rơi vào trạng thái “chưa có điều kiện thi hành”

Đây là quyết định khiến nhiều người nản lòng nhất. Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án khi người phải thi hành án không có thu nhập, hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu, và không có tài sản để thi hành (điểm a khoản 1 Điều 38 Luật THADS 2025).

Quyết định này không xóa nghĩa vụ. Nó có ba hệ quả cần nắm:

  • Thông tin về người phải thi hành án được đăng trên cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự và niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh (khoản 2 Điều 38).
  • Ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh lại. Nếu người phải thi hành án đang chấp hành án tù còn từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được nơi cư trú mới thì ít nhất 01 năm một lần (khoản 3 Điều 38).
  • Khi người được thi hành án cung cấp thông tin mới, Chấp hành viên phải xác minh trong 10 ngày (khoản 2 Điều 38).

Sau 02 năm kể từ ngày có quyết định chưa có điều kiện thi hành, nếu đã xác minh theo luật mà không có thông tin mới, cơ quan thi hành án gửi lại yêu cầu thi hành án cho đương sự. Đương sự có quyền yêu cầu thi hành trở lại khi phát hiện người phải thi hành án có điều kiện (khoản 4 Điều 38 Luật THADS 2025). Thời gian từ khi gửi lại đến khi yêu cầu trở lại không tính vào thời hiệu.

Lời khuyên thực tế: người được thi hành án nên chủ động theo dõi. Người cha từng khai thất nghiệp có thể đi làm lại sau vài tháng, mua xe, đăng ký kinh doanh. Mỗi lần có thông tin như vậy, nên gửi văn bản cho cơ quan thi hành án để buộc xác minh lại trong 10 ngày.

Khiếu nại trong thi hành án

Nếu cho rằng quyết định hoặc hành vi của Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án là trái pháp luật, ví dụ ra quyết định chưa có điều kiện thi hành trong khi người kia rõ ràng có thu nhập, đương sự có quyền khiếu nại. Thời hiệu khiếu nại lần đầu (khoản 2 Điều 96 Luật THADS 2025):

Đối tượng khiếu nại

Thời hiệu

Quyết định, hành vi trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế15 ngày
Quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm10 ngày
Quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế và sau đó30 ngày

Thời hiệu tính từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định hoặc biết được hành vi. Khiếu nại lần hai có thời hiệu 15 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ quyết định giải quyết lần đầu (khoản 3 Điều 96).

Xử phạt hành chính

Hai nghị định xử phạt áp dụng cho hai giai đoạn khác nhau. Nhầm giữa chúng là lỗi phổ biến trong đơn đề nghị xử phạt.

Khi từ chối, trốn tránh cấp dưỡng

Điểm b khoản 1 Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP phạt tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng đối với hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn. Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, nuôi dưỡng (khoản 2 Điều 43). Mức phạt này áp dụng cho cá nhân (khoản 2 Điều 5 Nghị định 282/2025). Thời hiệu xử phạt là 01 năm (khoản 1 Điều 6).

Hành vi này thuộc nhóm vi phạm về phòng, chống bạo lực gia đình. Theo kinh nghiệm, người bị vi phạm nên gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi người vi phạm cư trú, kèm bản án và bảng các kỳ chưa trả.

Một khoảng trống cần biết: câu chữ của điểm b khoản 1 Điều 43 chỉ nói đến con “sau khi ly hôn”. Điều 7 Nghị định 282/2025 mở rộng một số hành vi cho người chung sống như vợ chồng nhưng không nhắc đến Điều 43. Theo cách hiểu của chúng tôi, khi cha mẹ chưa từng đăng ký kết hôn, việc áp dụng điểm b khoản 1 Điều 43 có thể gặp tranh cãi. Trong trường hợp đó, công cụ chắc chắn hơn là thi hành án và chế tài trong lĩnh vực thi hành án bên dưới.

Khi đã vào giai đoạn thi hành án

Điều 65 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt trong lĩnh vực thi hành án dân sự. Các hành vi liên quan trực tiếp đến án cấp dưỡng:

Hành vi

Mức phạt (cá nhân)

Căn cứ

Không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, không chính xác tài sản, thu nhập khi được yêu cầu1.000.000 – 3.000.000 đồngĐiểm c khoản 2 Điều 65
Không thông báo cho cơ quan thi hành án khi thay đổi nơi cư trú1.000.000 – 3.000.000 đồngĐiểm b khoản 2 Điều 65
Trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án khi có điều kiện thi hành3.000.000 – 5.000.000 đồngĐiểm c khoản 3 Điều 65
Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật cho cơ quan thi hành án3.000.000 – 5.000.000 đồngĐiểm d khoản 3 Điều 65
Tẩu tán tài sản để không thi hành án10.000.000 – 20.000.000 đồngĐiểm a khoản 5 Điều 65

Người sử dụng lao động không chấp hành quyết định trừ vào thu nhập bị phạt từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng (điểm c khoản 4 Điều 65); nếu là tổ chức thì mức phạt gấp đôi (khoản 4 Điều 4 Nghị định 109/2026). Quy định này khiến doanh nghiệp hiếm khi làm ngơ trước quyết định trừ lương.

Khi nào có thể truy cứu trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự 2015 (sau đây gọi là BLHS) có hai tội danh liên quan, phân chia theo giai đoạn.

Tiêu chí

Điều 186 BLHS: Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

Điều 380 BLHS: Tội không chấp hành án

Nghĩa vụNghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, không bắt buộc đã có bản ánBản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
Điều kiện về khả năngCó khả năng thực tế để cấp dưỡngCó điều kiện thi hành án
Dấu hiệu bắt buộc, chỉ cần một trong haiLàm người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe; hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạmĐã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án; hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
Hình phạt khung cơ bảnCảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc tù từ 03 tháng đến 02 nămTù từ 03 tháng đến 02 năm; khung tăng nặng tù từ 02 đến 05 năm nếu chống người thi hành công vụ, dùng thủ đoạn tinh vi hoặc tẩu tán tài sản

Điều 186 BLHS có câu loại trừ: chỉ áp dụng “nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380”. Nghĩa là khi đã có bản án cấp dưỡng và người có nghĩa vụ không chấp hành dù đã bị cưỡng chế hoặc xử phạt, hành vi được xem xét theo Điều 380, không phải Điều 186.

Từ đó có thể hình dung lộ trình thực tế:

  1. Chưa có bản án: người có nghĩa vụ từ chối cấp dưỡng sau ly hôn → đơn đề nghị xử phạt theo Điều 43 Nghị định 282/2025 → nếu đã bị phạt mà vẫn tiếp tục, hoặc đứa trẻ lâm vào tình trạng nguy hiểm đến sức khỏe, có căn cứ tố giác theo Điều 186 BLHS.
  2. Đã có bản án: yêu cầu thi hành án → hết 10 ngày tự nguyện, có điều kiện mà không trả → cưỡng chế hoặc xử phạt theo Điều 65 Nghị định 109/2026 → vẫn không chấp hành thì Chấp hành viên có căn cứ đề nghị truy cứu theo Điều 380 BLHS.

Thực tiễn, số vụ bị xét xử về hai tội này không nhiều. Hầu hết người có nghĩa vụ chịu trả sau khi nhận quyết định xử phạt hoặc khi lương bắt đầu bị trừ. Giá trị lớn nhất của chế tài hình sự là sức răn đe, và sức răn đe đó chỉ có khi hồ sơ đã đi đủ các bước trước. Một đơn tố giác nộp ngay sau ba tháng chậm trả, khi chưa có quyết định thi hành án hay quyết định xử phạt nào, gần như chắc chắn không được khởi tố.

Nếu anh chị cần đánh giá hồ sơ đang ở bước nào, nên dùng chế tài nào trước, các luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi có thể hỗ trợ từ khâu lập đơn yêu cầu thi hành án đến làm việc với Chấp hành viên.

Những việc không nên tự làm

  • Không tự giữ giấy tờ, xe, tài sản của người kia để “trừ nợ”. Hành vi này có thể bị xử lý như chiếm giữ trái phép tài sản.
  • Không đến nơi làm việc của người kia làm ầm ĩ, không đăng thông tin cá nhân, sao kê, bản án lên mạng xã hội để bêu riếu. Thông tin người chưa có điều kiện thi hành án đã được Nhà nước công khai theo đúng thủ tục (khoản 2 Điều 38 Luật THADS 2025).
  • Không cắt quyền thăm con để ép trả tiền. Thăm nom và cấp dưỡng là hai nghĩa vụ độc lập; ngăn cản thăm nom bị phạt riêng.

Nếu việc đòi cấp dưỡng đi kèm đe dọa, bạo lực với mẹ con, việc bảo vệ an toàn phải đi trước. Có thể yêu cầu Tòa áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc và các biện pháp khác, như trình bày tại bài biện pháp khẩn cấp tạm thời khi ly hôn.

Một khoản cấp dưỡng bị bỏ quên vài năm thường không còn đòi được trọn vẹn, vì thời hiệu chạy theo từng tháng. Nếu anh chị đang có bản án mà chưa nhận đủ tiền, hãy rà lại các kỳ còn trong thời hiệu và nộp yêu cầu sớm, hoặc liên hệ dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi để được hỗ trợ. Mức cấp dưỡng và cách lập chứng từ để tránh tranh chấp về sau được trình bày tại bài cấp dưỡng nuôi con.

Câu hỏi thường gặp

Được, nhưng chỉ phù hợp khi muốn đề nghị xử phạt hành chính theo Điều 43 Nghị định 282/2025 hoặc tố giác khi đã đủ dấu hiệu hình sự. Muốn thu được tiền thì phải yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án.

Đòi được các kỳ còn trong thời hiệu 05 năm, tính từ ngày đến hạn của từng kỳ (khoản 2 Điều 34 Luật THADS 2025). Các kỳ đã quá 05 năm có nguy cơ bị từ chối yêu cầu thi hành án vì hết thời hiệu, trừ khi chứng minh được trở ngại khách quan.

Nghĩa vụ vẫn còn. Nếu cơ quan thi hành án xác minh thấy không có thu nhập, tài sản thì ra quyết định chưa có điều kiện thi hành, nhưng phải xác minh lại ít nhất 06 tháng một lần (khoản 3 Điều 38 Luật THADS 2025). Nếu người đó thực sự khó khăn kéo dài, họ phải yêu cầu Tòa cho tạm ngừng cấp dưỡng theo Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, không được tự ngừng.

Có. Thi hành án cấp dưỡng là trường hợp được trừ vào thu nhập (điểm c khoản 2 Điều 76 Luật THADS 2025). Người sử dụng lao động phải thực hiện quyết định của cơ quan thi hành án; không chấp hành bị phạt theo điểm c khoản 4 Điều 65 Nghị định 109/2026.

Cơ quan thi hành án thu hồi quyết định thi hành án đã ban hành và ra quyết định mới theo mức trong bản án, quyết định mới của Tòa (khoản 2 Điều 11 Nghị định 152/2026). Cách yêu cầu Tòa thay đổi mức được trình bày tại bài khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng.

Khi chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án, người đó có thể bị tạm hoãn xuất cảnh (Điều 70 Luật THADS 2025). Nên cung cấp ngay thông tin về kế hoạch xuất cảnh cho Chấp hành viên.
Các vấn đề hôn nhân và gia đình cần được xử lý thấu đáo cả về pháp lý lẫn sự riêng tư. Luật Quốc Ấn tiếp nhận đánh giá sơ bộ và tư vấn hướng giải quyết phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của bạn.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698