Điều kiện đăng ký kết hôn và thủ tục tại Ủy ban nhân dân cấp xã
Nhiều gia đình xem ngày ăn hỏi, chọn giờ rước dâu rất kỹ, còn việc ra Ủy ban ký giấy thì để sau cùng, có khi sau đám cưới vài tháng. Trong mắt pháp luật thì thứ tự ấy ngược lại. Tiệc cưới không làm phát sinh quan hệ vợ chồng. Chỉ khi việc kết hôn được đăng ký tại cơ quan hộ tịch, hai người mới là vợ chồng hợp pháp (khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, sau đây gọi là Luật HNGĐ). Và điều kiện kết hôn được xét tại chính ngày đăng ký, không phải ngày đãi khách.
Tóm tắt
- Điều kiện đăng ký kết hôn gồm bốn điều tại khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ: nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi; hai bên tự nguyện; không bên nào bị mất năng lực hành vi dân sự; không thuộc các trường hợp cấm kết hôn tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ.
- Tuổi tính theo ngày, tháng, năm sinh. Chưa tới đúng ngày sinh nhật thứ 20 (nam) hoặc thứ 18 (nữ) là chưa đủ tuổi.
- Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính (khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ), nên cơ quan hộ tịch không đăng ký.
- Hiện nay nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên, trực tiếp hoặc trực tuyến. Kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú trong nước với nhau được miễn lệ phí và giải quyết ngay trong ngày, cần xác minh thì không quá 05 ngày làm việc.
- Không phải tự xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn trong nước. Cơ quan hộ tịch tự tra cứu dữ liệu và xác minh khi cần.
- Hai bên phải cùng có mặt để ký Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Không ủy quyền được.
- Từ 01/3/2027, Luật Hộ tịch 2026 cho phép đăng ký tại bất kỳ Ủy ban nhân dân cấp xã nào, không phụ thuộc nơi cư trú. Hồ sơ nộp trước mốc này vẫn giải quyết theo luật cũ.
Kết hôn chỉ phát sinh từ ngày đăng ký
Khoản 1 Điều 9 Luật HNGĐ nói thẳng: việc kết hôn không được đăng ký thì không có giá trị pháp lý. Hai người đã làm lễ, đã sống chung, đã có con nhưng chưa ra Ủy ban thì về mặt pháp lý vẫn chưa phải vợ chồng. Hệ quả của tình trạng này, từ tài sản đến con chung, được giải quyết theo Điều 14 đến Điều 16 Luật HNGĐ, khác hẳn với hôn nhân hợp pháp. Nhóm trường hợp đó được phân tích riêng trong bài về chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn.
Có hai trường hợp người ta hay quên phải đăng ký. Thứ nhất, vợ chồng đã ly hôn muốn quay lại với nhau thì phải đăng ký kết hôn mới (khoản 2 Điều 9 Luật HNGĐ). Việc dọn về ở chung không làm hôn nhân cũ sống lại. Thứ hai, người chung sống như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 là trường hợp đặc biệt, được thừa nhận là vợ chồng dù không đăng ký theo Nghị quyết 35/2000/QH10. Nhà nước khuyến khích các cặp này đăng ký kết hôn, và quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày bắt đầu chung sống, không phải từ ngày đăng ký (khoản 2 Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP). Đây là ngoại lệ lịch sử, không áp dụng cho các cặp đôi hiện nay.
04 điều kiện kết hôn theo Điều 8 Luật HNGĐ
Bốn điều kiện phải thỏa mãn cùng lúc, tại thời điểm đăng ký. Thiếu một điều, công chức hộ tịch từ chối. Nếu lọt qua khâu đăng ký, hôn nhân đó là kết hôn trái pháp luật theo khoản 6 Điều 3 Luật HNGĐ.
Điều kiện | Căn cứ | Thường vướng ở đâu |
| Nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi | Điểm a khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ | Tính tuổi bằng cách lấy năm trừ năm |
| Hai bên tự nguyện quyết định | Điểm b khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ | Áp lực gia đình, lời hứa hẹn sai sự thật |
| Không bị mất năng lực hành vi dân sự | Điểm c khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ; Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 | Nhầm bệnh lý với tình trạng pháp lý |
| Không thuộc trường hợp cấm kết hôn | Điểm d khoản 1 Điều 8; điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ | Hôn nhân cũ chưa chấm dứt dứt điểm; quan hệ họ hàng |
Tuổi kết hôn tính đến từng ngày
“Từ đủ 20 tuổi” và “từ đủ 18 tuổi” được xác định theo ngày, tháng, năm sinh (khoản 1 Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, sau đây gọi là TTLT 01/2016). Cô gái sinh ngày 20/11/2008 thì đến ngày 20/11/2026 mới đủ 18 tuổi. Đăng ký ngày 19/11/2026 là tảo hôn, dù năm 2026 trừ năm 2008 ra đúng 18.
Giấy tờ chỉ ghi năm sinh thì tháng sinh được xác định là tháng 01 của năm đó. Có tháng mà không có ngày thì lấy ngày 01 của tháng (khoản 1 Điều 2 TTLT 01/2016). Quy tắc này dùng khi thiếu dữ liệu, không phải cơ hội để chọn ngày sinh có lợi. Nếu giấy khai sinh và căn cước ghi ngày sinh khác nhau, nên cải chính hộ tịch trước rồi mới nộp hồ sơ kết hôn.
Luật không có ngoại lệ về tuổi. Mang thai, đã có con chung hay được cha mẹ hai bên đồng ý đều không làm giảm độ tuổi tối thiểu.
Tự nguyện, và hai thứ phá hỏng sự tự nguyện
Tự nguyện là hai bên xác lập quan hệ vợ chồng hoàn toàn theo ý chí của mình (khoản 2 Điều 2 TTLT 01/2016). Luật HNGĐ chỉ ra hai hành vi làm mất đi yếu tố này.
Cưỡng ép kết hôn là đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác kết hôn trái ý muốn (khoản 9 Điều 3 Luật HNGĐ). Người cưỡng ép không nhất thiết là người kia. Cha mẹ ép con lấy người mình chọn cũng thuộc trường hợp này.
Lừa dối kết hôn là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm bên kia hiểu sai lệch và vì thế đồng ý kết hôn. Nếu không có sự lừa dối thì bên bị lừa đã không đồng ý (khoản 3 Điều 2 TTLT 01/2016). Không phải điều gì giấu nhau trước khi cưới cũng là lừa dối. Sự hiểu sai phải có tính quyết định đối với việc đồng ý kết hôn.
Khi đăng ký, công chức hộ tịch hỏi lại hai bên để khẳng định sự tự nguyện trước khi cho ký. Đó là lý do luật buộc cả hai phải có mặt.
Mất năng lực hành vi dân sự là tình trạng do Tòa án tuyên
Chỉ người đã bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS) mới không đủ điều kiện này. Người có bệnh tâm thần, người khuyết tật trí tuệ hay người đang điều trị nhưng chưa có quyết định của Tòa không bị loại trừ một cách tự động. Họ vẫn phải tự mình thể hiện được ý chí kết hôn trước công chức hộ tịch.
Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Điều 23 BLDS cũng không phải là người mất năng lực hành vi dân sự. Hai tình trạng này có hệ quả khác nhau và không nên đánh đồng.
Các trường hợp cấm kết hôn
Điều kiện thứ tư dẫn chiếu sang điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ. Gom lại có bốn nhóm.
Kết hôn giả tạo. Là lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc đạt mục đích khác mà không nhằm xây dựng gia đình (khoản 11 Điều 3 Luật HNGĐ). Kết hôn với người nước ngoài rồi ra nước ngoài sống không phải là giả tạo. Giả tạo là khi mục đích xây dựng gia đình không tồn tại.
Tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn. Tảo hôn là lấy vợ, lấy chồng khi một hoặc hai bên chưa đủ tuổi (khoản 8 Điều 3 Luật HNGĐ). Cản trở kết hôn là hành vi ngăn cản người đủ điều kiện kết hôn theo ý muốn của họ (khoản 10 Điều 3 Luật HNGĐ).
Vi phạm chế độ một vợ một chồng. Người đang có vợ, có chồng không được kết hôn với người khác. Người chưa có vợ, chưa có chồng không được kết hôn với người đang có vợ, có chồng. Theo khoản 4 Điều 2 TTLT 01/2016, “đang có vợ, có chồng” bao gồm cả người đã chung sống như vợ chồng với người khác từ trước ngày 03/01/1987 mà chưa ly hôn, dù chưa từng có Giấy chứng nhận kết hôn. Hôn nhân chỉ chấm dứt khi bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hoặc khi vợ, chồng chết hay bị Tòa tuyên bố là đã chết. Ly thân bao nhiêu năm cũng không thay được bản án ly hôn. Người đang làm thủ tục ly hôn phải chờ đến ngày bản án, quyết định có hiệu lực mới đủ điều kiện kết hôn với người khác. Các chế tài hành chính, hình sự và hệ quả dân sự của nhóm hành vi này được trình bày trong bài về vi phạm chế độ một vợ một chồng.
Quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và thông gia. Cấm kết hôn giữa:
- những người cùng dòng máu về trực hệ, tức người này sinh ra người kia kế tiếp nhau (khoản 17 Điều 3 Luật HNGĐ);
- những người có họ trong phạm vi ba đời (khoản 18 Điều 3 Luật HNGĐ). Cha mẹ là đời thứ nhất. Anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai. Anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba. Anh chị em họ con chú con bác vì vậy không được lấy nhau;
- cha, mẹ nuôi với con nuôi; người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi;
- cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
Cùng họ, cùng làng hay xưng hô theo vai vế trong dòng tộc chưa đủ để kết luận hai người “có họ trong phạm vi ba đời”. Phải dựng lại cây phả hệ theo đúng cách tính của khoản 18 Điều 3. Con của anh chị em con chú con bác (đời thứ tư) thì luật không cấm.
Những yếu tố không cản trở kết hôn
Khác dân tộc, khác tôn giáo, chênh lệch tuổi tác, đã có con riêng, đang mang thai hay từng ly hôn đều không phải là điều kiện của Điều 8. Người đang chấp hành án phạt tù cũng không bị cấm kết hôn. Vướng mắc của họ nằm ở chỗ phải có mặt để ký, nên cần phối hợp giữa Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ sở giam giữ.
Riêng hôn nhân cùng giới, khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ dùng chữ “không thừa nhận”. Luật không còn cấm như Luật HNGĐ 2000, nhưng cơ quan hộ tịch không đăng ký và quan hệ này không được pháp luật bảo hộ như quan hệ vợ chồng.
Những trường hợp nằm ở vùng xám, như hôn nhân cũ ở nước ngoài chưa ghi chú, ngày sinh trên giấy tờ không khớp hay quan hệ họ hàng khó tính đời, nên được kiểm tra trước khi nộp hồ sơ. Một buổi trao đổi với luật sư hôn nhân và gia đình thường đỡ tốn kém hơn nhiều so với việc phải xử lý một cuộc hôn nhân trái pháp luật về sau.
Đăng ký ở đâu
Theo khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch 2014, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ đăng ký kết hôn. Nơi cư trú gồm cả nơi tạm trú. Hồ sơ được nộp tại Trung tâm Phục vụ hành chính công hoặc qua Cổng Dịch vụ công quốc gia (thủ tục mã 1.000894 theo Quyết định 1833/QĐ-BTP ngày 23/6/2025 của Bộ Tư pháp, sau đây gọi là QĐ 1833).
Người đến nhầm địa bàn không bị trả về tay không. Theo QĐ 1833, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiếp nhận phải hỗ trợ người dân gửi hồ sơ trực tuyến đến đúng cơ quan có thẩm quyền.
Sau cải cách chính quyền hai cấp từ 01/7/2025, kết hôn có yếu tố nước ngoài cũng do Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết, không còn lên cấp huyện như Điều 37 Luật Hộ tịch 2014 (Nghị định 120/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực của Bộ Tư pháp). Phần này được nói riêng ở mục dưới.
Hồ sơ đăng ký kết hôn trong nước
Với hai công dân Việt Nam cư trú trong nước, hồ sơ theo QĐ 1833 gọn hơn nhiều người nghĩ.
Giấy tờ | Nộp trực tiếp | Nộp trực tuyến |
| Tờ khai đăng ký kết hôn | Theo mẫu; hai bên có thể khai chung một tờ | Điền mẫu hộ tịch điện tử tương tác trên Cổng Dịch vụ công |
| Giấy tờ tùy thân (căn cước, hộ chiếu, căn cước điện tử) | Xuất trình bản chính để đối chiếu | Không phải tải lên nếu thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và được hệ thống tự điền |
| Giấy tờ chứng minh nơi cư trú | Chỉ xuất trình khi cơ quan không khai thác được thông tin cư trú | Chỉ xuất trình khi cơ quan không khai thác được thông tin cư trú |
| Trích lục ghi chú ly hôn (người từng ly hôn ở nước ngoài) | Chỉ xuất trình khi cơ quan không khai thác được thông tin cư trú | Chỉ xuất trình khi cơ quan không khai thác được thông tin cư trú |
Một bên có thể đi nộp hồ sơ mà không cần văn bản ủy quyền của bên kia (QĐ 1833). Giấy tờ nộp có thể là bản sao chứng thực, bản sao cấp từ sổ gốc, hoặc bản chụp kèm bản chính để đối chiếu. Người tiếp nhận không được đòi thêm giấy tờ mà pháp luật hộ tịch không quy định.
Về tình trạng hôn nhân, người kết hôn trong nước không phải tự đi xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Quy định buộc nộp giấy này tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 123/2015/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 123) đã bị Nghị định 07/2025/NĐ-CP bãi bỏ từ 09/01/2025. Cơ quan đăng ký tự tra cứu trên Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Không tra cứu được thì đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú hoặc nơi đã đăng ký kết hôn trước đây xác minh; nơi được hỏi phải trả lời trong 03 ngày làm việc (khoản 5 Điều 3 Nghị định 123). Người đăng ký chỉ cần khai trung thực lịch sử hôn nhân của mình.
Người từng ly hôn hoặc bị hủy kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải làm thủ tục ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đó trước. Nếu dữ liệu chưa thể hiện việc ghi chú, cơ quan hộ tịch sẽ hướng dẫn làm thủ tục này rồi mới giải quyết đăng ký kết hôn. Trường hợp còn phải ra Tòa Việt Nam, xem thêm bài về ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Khai sai sự thật về tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn bị phạt từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng, kèm kiến nghị xử lý Giấy chứng nhận kết hôn đã cấp (điểm b khoản 2 và điểm b khoản 4 Điều 38 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
Trình tự và thời hạn giải quyết
Trình tự theo Điều 18 Luật Hộ tịch 2014 và QĐ 1833 diễn ra như sau.
- Nộp hồ sơ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công hoặc trực tuyến. Hồ sơ đủ thì nhận phiếu hẹn; nộp trực tuyến thì nhận phiếu hẹn qua thư điện tử hoặc tin nhắn. Hồ sơ thiếu thì được hướng dẫn bổ sung, nêu rõ giấy tờ còn thiếu.
- Công chức tư pháp – hộ tịch thẩm tra hồ sơ và điều kiện kết hôn, tra cứu tình trạng hôn nhân.
- Với hồ sơ trực tuyến, công chức gửi biểu mẫu Giấy chứng nhận kết hôn điện tử để hai bên kiểm tra. Người yêu cầu có tối đa một ngày để xác nhận. Không phản hồi sau một ngày thì được coi là đồng ý với nội dung. Đây là lúc phải soát kỹ họ tên, ngày sinh, số định danh, vì sửa sau khi đã ký phải làm thủ tục cải chính.
- Công chức ghi vào Sổ đăng ký kết hôn, in Giấy chứng nhận kết hôn, trình lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã ký.
- Hai bên cùng có mặt, xuất trình giấy tờ tùy thân, kiểm tra nội dung, khẳng định sự tự nguyện, ký vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Mỗi người nhận một bản chính. Bản điện tử trích lục kết hôn được gửi về kho dữ liệu cá nhân hoặc thư điện tử của người yêu cầu.
Thời hạn là ngay trong ngày tiếp nhận hồ sơ. Nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết kịp thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo (khoản 3 Điều 5 Luật Hộ tịch 2014). Cần xác minh điều kiện kết hôn thì không quá 05 ngày làm việc (khoản 2 Điều 18 Luật Hộ tịch 2014). Thời gian gửi văn bản xác minh và chờ trả lời không tính vào thời hạn này (khoản 4 Điều 3 Nghị định 123). Quá hẹn, cơ quan hộ tịch phải lập phiếu xin lỗi và hẹn lại ngày trả kết quả, ghi rõ lý do.
Lệ phí được miễn cho việc kết hôn của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước (điểm b khoản 1 Điều 11 Luật Hộ tịch 2014). Người muốn có thêm bản sao trích lục kết hôn thì nộp phí cấp bản sao theo Thông tư 281/2016/TT-BTC.
Hai bên phải có mặt, không ủy quyền
Khoản 2 Điều 6 Luật Hộ tịch 2014 buộc các bên phải trực tiếp thực hiện việc kết hôn tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Thông tư 04/2020/TT-BTP (sau đây gọi là Thông tư 04/2020) nói rõ hơn: đăng ký kết hôn không được ủy quyền, một bên được nộp hồ sơ mà không cần văn bản ủy quyền của bên kia, và khi trả kết quả cả hai bên phải có mặt (khoản 1 Điều 2, khoản 5 Điều 3 Thông tư 04/2020). Nộp hồ sơ thì một người làm được, nhưng bước ký và nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì không ai ký thay được. Người đang ở xa có thể để bên kia nộp hồ sơ trước, rồi hẹn ngày cùng về ký.
Đăng ký kết hôn lưu động
Nếu hai bên cùng thường trú trên địa bàn một xã, và một hoặc cả hai người là người khuyết tật hoặc ốm bệnh không thể đến trụ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành đăng ký kết hôn lưu động (khoản 1 Điều 24 Thông tư 04/2020). Công chức mang sổ và biểu mẫu đến tận nơi, kiểm tra điều kiện, tiếp nhận hồ sơ. Trong không quá 05 ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký Giấy chứng nhận kết hôn và công chức trao giấy cho hai bên tại địa điểm đăng ký lưu động (Điều 26 Thông tư 04/2020). Việc này cũng miễn lệ phí. Người không biết chữ thì công chức ghi tờ khai, đọc lại và hướng dẫn điểm chỉ.
Kết hôn với người nước ngoài
Điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo Điều 126 Luật HNGĐ được xét theo hai tầng. Mỗi bên tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn. Nếu đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải đáp ứng điều kiện kết hôn của Luật HNGĐ. Một người nam quốc tịch nước ngoài mới 19 tuổi, dù luật nước họ cho phép kết hôn, vẫn không đăng ký được tại Việt Nam.
Thủ tục (mã 2.000806 theo QĐ 1833) hiện do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện, theo trình tự của Điều 38 Luật Hộ tịch 2014 và các Điều 30 đến 33 Nghị định 123 (khoản 1 mục I Phụ lục Nghị định 120/2025/NĐ-CP). Hồ sơ nặng hơn so với kết hôn trong nước:
- giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài rằng mỗi bên không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi;
- giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do nước họ cấp, xác nhận hiện không có vợ hoặc chồng. Nước đó không cấp loại giấy này thì thay bằng giấy xác nhận người đó đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó;
- bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ thay hộ chiếu của người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- công dân Việt Nam là công chức, viên chức hoặc đang phục vụ trong lực lượng vũ trang phải nộp văn bản của cơ quan, đơn vị xác nhận việc kết hôn với người nước ngoài không trái quy định của ngành;
- công dân Việt Nam đang công tác, học tập, lao động có thời hạn ở nước ngoài phải nộp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước đó cấp (khoản 2 Điều 10 Nghị định 123).
Giấy tờ nước ngoài phải hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế (Điều 10 Luật Hộ tịch 2014). Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của người nước ngoài có giá trị theo thời hạn ghi trên giấy. Giấy không ghi thời hạn thì nó và giấy khám sức khỏe có giá trị 06 tháng kể từ ngày cấp (khoản 1 Điều 30 Nghị định 123). Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải dịch ra tiếng Việt, công chứng bản dịch hoặc chứng thực chữ ký người dịch (khoản 3 Điều 2 Nghị định 123).
Thời hạn giải quyết là 05 ngày làm việc, cần xác minh thì không quá 10 ngày làm việc (điểm b khoản 1 mục I Phụ lục Nghị định 120/2025/NĐ-CP). Mốc này ngắn hơn nhiều so với 15 ngày của khoản 2 Điều 38 Luật Hộ tịch 2014, và được áp dụng vì khi quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Nghị định 120/2025 khác với văn bản khác thì thực hiện theo Nghị định này (khoản 3 Điều 23 Nghị định 120/2025/NĐ-CP). Lệ phí do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định; người thuộc gia đình có công với cách mạng, hộ nghèo, người khuyết tật được miễn (QĐ 1833). Khi có dấu hiệu cần làm rõ, công chức có thể làm việc trực tiếp với hai bên về nhân thân, sự tự nguyện và mục đích kết hôn.
Nếu một hoặc hai bên không thể có mặt nhận Giấy chứng nhận kết hôn, có thể đề nghị bằng văn bản để gia hạn, nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày lãnh đạo Ủy ban ký. Hết 60 ngày không đến nhận, Giấy chứng nhận kết hôn đã ký bị hủy và hai bên phải làm lại từ đầu (khoản 3 Điều 32 Nghị định 123).
Đăng ký rồi mới phát hiện vi phạm
Giấy chứng nhận kết hôn đã cấp cho người không đủ điều kiện không tự mất hiệu lực. Nó chỉ bị hủy khi Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật theo Điều 11 Luật HNGĐ. Tòa cũng có thể công nhận hôn nhân nếu đến lúc giải quyết cả hai đã đủ điều kiện và cùng yêu cầu công nhận. Đây là điểm cần nói rõ với khách hàng: phát hiện ra vợ hoặc chồng chưa đủ tuổi lúc đăng ký không có nghĩa là mình được “tự do” kết hôn với người khác. Trong khi chưa có quyết định của Tòa, hôn nhân đã đăng ký vẫn đang tồn tại.
Từ 01/3/2027, Luật Hộ tịch 2026 thay đổi những gì
Luật Hộ tịch số 03/2026/QH16 (Luật Hộ tịch 2026) có hiệu lực từ 01/3/2027 và thay thế Luật Hộ tịch 2014 (khoản 1, khoản 2 Điều 29 Luật Hộ tịch 2026). Điều kiện kết hôn không đổi vì vẫn do Luật HNGĐ quy định. Thứ thay đổi là cách đăng ký.
Nội dung | Hiện nay (Luật Hộ tịch 2014, QĐ 1833) | Từ 01/3/2027 (Luật Hộ tịch 2026) |
| Nơi đăng ký | Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một bên | Ủy ban nhân dân cấp xã bất kỳ, không phụ thuộc nơi cư trú (khoản 1 Điều 8) |
| Kết hôn có yếu tố nước ngoài | Cấp xã theo phân cấp năm 2025 | Cấp xã theo luật (điểm b, c khoản 1 Điều 16) |
| Nội dung đăng ký | Ngày đăng ký kết hôn | Thêm ngày, tháng, năm xác lập quan hệ hôn nhân (điểm b khoản 2 Điều 16) |
| Người ký Giấy chứng nhận kết hôn | Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã | Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, không được ủy quyền ký (điểm b khoản 2 Điều 8) |
| Kết quả | Bản giấy và bản điện tử trích lục | Bản giấy và bản điện tử; Giấy chứng nhận kết hôn phải nhận trực tiếp, không gửi qua bưu chính (khoản 2, khoản 3 Điều 10) |
| Giấy tờ phải nộp | Theo thành phần hồ sơ tại QĐ 1833 | Không yêu cầu nộp, xuất trình giấy tờ nếu khai thác được dữ liệu (khoản 7 Điều 3) |
| Lệ phí | Miễn cho công dân cư trú trong nước (điểm b khoản 1 Điều 11 Luật Hộ tịch 2014) | Theo pháp luật về phí, lệ phí (Điều 12); luật mới không nhắc lại quy định miễn |
Hai điểm trong bảng cần theo dõi thêm. Luật Hộ tịch 2026 ghi riêng “ngày xác lập quan hệ hôn nhân” bên cạnh ngày đăng ký. Hiện nay, theo Điều 32 Thông tư 04/2020, ngày đăng ký kết hôn là ngày hai bên có mặt ký sổ, và quan hệ hôn nhân xác lập từ ngày đó. Chỉ trong bốn trường hợp (đăng ký lại kết hôn, đăng ký hôn nhân thực tế trước 03/01/1987, Tòa án công nhận hôn nhân theo khoản 2 Điều 11 Luật HNGĐ, đăng ký lại sau khi đăng ký sai thẩm quyền theo Điều 13 Luật HNGĐ) thì ngày xác lập quan hệ hôn nhân mới được ghi riêng, ở mặt sau Giấy chứng nhận kết hôn. Luật mới đưa mốc này lên thành nội dung đăng ký chính thức. Cách ghi cụ thể sẽ do Chính phủ hướng dẫn (điểm b khoản 4 Điều 29 Luật Hộ tịch 2026). Về lệ phí, việc miễn hay thu từ 01/3/2027 phụ thuộc văn bản về phí, lệ phí sẽ ban hành, nên chưa thể khẳng định việc miễn lệ phí sẽ được giữ nguyên.
Hồ sơ đăng ký kết hôn tiếp nhận trước ngày 01/3/2027 mà chưa giải quyết xong thì tiếp tục giải quyết theo pháp luật tại thời điểm tiếp nhận (Điều 30 Luật Hộ tịch 2026). Giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo luật cũ vẫn có giá trị sử dụng, không phải đổi (khoản 2 Điều 28 Luật Hộ tịch 2026).
Câu hỏi thường gặp
Đăng ký kết hôn online có phải đến Ủy ban không?
Có. Nộp hồ sơ và kiểm tra biểu mẫu thì làm trực tuyến được, nhưng hai bên vẫn phải cùng có mặt để ký Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn. Đây là yêu cầu của khoản 2 Điều 6 Luật Hộ tịch 2014 và được Luật Hộ tịch 2026 giữ lại tại khoản 3 Điều 16.
Có cần giấy khám sức khỏe khi đăng ký kết hôn trong nước không?
Đang ly thân đã lâu, có đăng ký kết hôn với người khác được không?
Không. Hôn nhân chỉ chấm dứt khi bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực hoặc khi một bên chết, bị tuyên bố đã chết. Đăng ký trong lúc hôn nhân cũ còn tồn tại là kết hôn trái pháp luật, và tùy trường hợp còn bị xử lý như hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng.
Anh chị em họ có được kết hôn với nhau không?
Mất Giấy chứng nhận kết hôn có phải đăng ký lại không?
Không nhất thiết. Nếu sổ hộ tịch hoặc dữ liệu điện tử còn lưu, chỉ cần xin bản sao trích lục kết hôn. Đăng ký lại chỉ đặt ra khi cả sổ và bản chính đều mất, theo các điều kiện riêng. Luật Hộ tịch 2026 cũng chỉ cho phép đăng ký lặp lại một sự kiện hộ tịch trong trường hợp đăng ký lại kết hôn (khoản 4 Điều 3). Cách xử lý từng tình huống được hướng dẫn trong bài về mất giấy chứng nhận kết hôn.
Muốn lập thỏa thuận tài sản thì làm lúc nào?
Trước ngày đăng ký kết hôn. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản, quen gọi là hợp đồng tiền hôn nhân, phải lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, và có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn (Điều 47 Luật HNGĐ). Đã ký Giấy chứng nhận kết hôn rồi thì không lập loại thỏa thuận này được nữa.
Phần lớn hồ sơ kết hôn trong nước được giải quyết trong ngày mà không cần đến ai giúp. Nhóm cần chuẩn bị kỹ là người từng ly hôn ở nước ngoài, người kết hôn với người nước ngoài và người có giấy tờ nhân thân không thống nhất. Với những trường hợp đó, dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình có thể rà soát hồ sơ và xử lý các thủ tục phải làm trước khi ra Ủy ban.
