Xác định cha cho con và thủ tục đăng ký nhận cha tại Ủy ban nhân dân cấp xã
Giấy khai sinh để trống phần ghi về cha là chuyện của rất nhiều gia đình: cha mẹ chung sống mà không đăng ký kết hôn, con sinh ra khi người mẹ chưa ly hôn xong với chồng cũ, hoặc người cha biết chuyện muộn. Cùng là “xác định cha cho con”, nhưng có trường hợp chỉ cần một buổi làm việc ở Ủy ban nhân dân cấp xã, có trường hợp bắt buộc phải qua Tòa án. Điểm phân chia nằm ở hai câu hỏi: người mẹ có đang trong một cuộc hôn nhân khác không, và các bên có tranh chấp không.
Tóm tắt
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, hoặc sinh trong 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt, được pháp luật suy đoán là con chung của vợ chồng (khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Không cần làm thủ tục nhận cha.
- Con của cha mẹ không đăng ký kết hôn, không có tranh chấp, thì đăng ký nhận cha tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận (Điều 24, 25 Luật Hộ tịch 2014). Thời hạn 03 ngày làm việc.
- Chứng cứ là văn bản xác nhận quan hệ huyết thống của cơ quan y tế, giám định; không có thì các bên lập văn bản cam đoan, có ít nhất hai người làm chứng (Điều 14 Thông tư 04/2020/TT-BTP).
- Cả người nhận và người được nhận (hoặc người đại diện) đều phải có mặt; việc nhận cha, mẹ, con không được ủy quyền.
- Người đang có vợ, có chồng vẫn được nhận con ngoài giá thú mà không cần người kia đồng ý (khoản 2 Điều 91 Luật HNGĐ).
- Nếu con được suy đoán là con của chồng người mẹ, có tranh chấp, hoặc người cha đã chết, thì cơ quan hộ tịch không giải quyết; phải yêu cầu Tòa án.
Khi nào pháp luật đã “xác định sẵn” người cha
Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật HNGĐ) đặt ra ba suy đoán:
Tình huống | Người được xác định là cha |
| Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, hoặc người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân | Người chồng |
| Con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân (ly hôn có hiệu lực, chồng chết) | Người chồng, vì con được coi là do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân |
| Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận | Người chồng, là con chung của vợ chồng |
Với hai dòng đầu, khi khai sinh cho con, phần ghi về cha được ghi theo người chồng. Không có thủ tục “nhận cha” nào cần làm.
Dòng thứ ba có hướng dẫn riêng. Con sinh trước khi đăng ký kết hôn mà chưa khai sinh, nay vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung, thì thông tin về cha được ghi ngay vào Giấy khai sinh. Nếu con đã được khai sinh mà để trống phần cha, thì làm thủ tục bổ sung hộ tịch, không phải thủ tục nhận cha, con (khoản 2, khoản 3 Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP, văn bản hợp nhất 3884/VBHN-BTP năm 2024). Đây là thủ tục nhanh nhất trong cả bài, và cũng là trường hợp nhiều người đi nhầm sang nhận cha, con.
Suy đoán theo Điều 88 chỉ bị lật lại khi có chứng cứ và được Tòa án xác định (khoản 2 Điều 88 Luật HNGĐ). Chính quy định này tạo ra tình huống khó nhất, trình bày ở phần dưới.
Đăng ký nhận cha tại Ủy ban nhân dân cấp xã
Cơ quan đăng ký hộ tịch xác định cha, mẹ, con khi không có tranh chấp (khoản 1 Điều 101 Luật HNGĐ). Trường hợp điển hình là cha mẹ chung sống không đăng ký kết hôn, con đã khai sinh với phần cha để trống, nay người cha muốn nhận con. Hệ quả về con và tài sản khi chung sống không đăng ký được trình bày tại bài chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn.
Ai được nhận, ai phải đồng ý
- Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả khi con đã chết (khoản 1 Điều 91 Luật HNGĐ).
- Con có quyền nhận cha, mẹ, kể cả khi cha, mẹ đã chết (khoản 1 Điều 90). Tuy vậy, khi người được nhận đã chết, việc xác định thuộc thẩm quyền Tòa án (khoản 2 Điều 101), không làm ở xã được.
- Con đã thành niên nhận cha thì không cần mẹ đồng ý; nhận mẹ không cần cha đồng ý (khoản 2 Điều 90).
- Người đang có vợ, có chồng nhận con thì không cần sự đồng ý của vợ hoặc chồng mình (khoản 2 Điều 91).
- Con chưa thành niên thì người mẹ, với tư cách người đại diện theo pháp luật, ký tờ khai cùng người cha (khoản 3 Điều 6 Luật Hộ tịch 2014).
Trường hợp cha mẹ chung sống không đăng ký kết hôn, con đang sống với cha mà không liên hệ được với mẹ, thì người cha vẫn làm thủ tục nhận con mà không cần ý kiến của người mẹ trong tờ khai; phần thông tin về mẹ ghi theo Giấy chứng sinh, giấy tờ tùy thân của mẹ, hoặc theo thông tin người cha cung cấp và người cha chịu trách nhiệm về thông tin đó (khoản 1 Điều 16 Thông tư 04/2020).
Nộp ở đâu
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con (Điều 24 Luật Hộ tịch 2014).
Nếu một bên là người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, trước đây thẩm quyền thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 43 Luật Hộ tịch 2014). Từ ngày 01/7/2025, việc này chuyển về Ủy ban nhân dân cấp xã (Điều 4 Nghị định 120/2025/NĐ-CP). Thời hạn giải quyết là 10 ngày làm việc, trong đó có thời gian niêm yết 05 ngày làm việc tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi giải quyết và nơi thường trú của người được nhận (điểm c khoản 1 mục I Phụ lục Nghị định 120/2025).
Hồ sơ
- Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu.
- Chứng cứ chứng minh quan hệ cha con, gồm một trong hai loại (Điều 14 Thông tư 04/2020):
- văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, tức kết quả giám định ADN;
- nếu không có văn bản trên, văn bản cam đoan của các bên về quan hệ cha, con, có ít nhất hai người làm chứng.
- Giấy tờ tùy thân, hoặc chỉ cần cung cấp số định danh cá nhân để cơ quan hộ tịch tự tra cứu (khoản 1 Điều 2 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, văn bản hợp nhất 401/VBHN-BTP năm 2026).
Cam đoan không đúng sự thật thì cơ quan hộ tịch từ chối hoặc đề nghị hủy kết quả đăng ký (khoản 2 Điều 5 Thông tư 04/2020), và người cam đoan có thể bị xử lý. Thực tiễn, khi hai bên không có mâu thuẫn và đứa trẻ còn nhỏ, phần lớn hồ sơ đi theo đường cam đoan có người làm chứng, vì nhanh và không tốn chi phí giám định. Nhưng nếu sau này có nguy cơ tranh chấp, chẳng hạn về thừa kế, một kết quả ADN từ cơ sở giám định có thẩm quyền sẽ bền hơn nhiều.
Trình tự và thời hạn
Trong 03 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ giấy tờ, nếu việc nhận cha, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký ký vào Sổ, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu. Cần xác minh thì thêm không quá 05 ngày làm việc (khoản 2 Điều 25 Luật Hộ tịch 2014).
Các bên phải có mặt khi đăng ký (khoản 1 Điều 25 Luật Hộ tịch 2014). Việc nhận cha, mẹ, con không được ủy quyền cho người khác, dù một bên có thể nộp hồ sơ trước; khi trả kết quả, cả bên nhận và bên được nhận đều phải có mặt (khoản 1 Điều 2, khoản 5 Điều 3 Thông tư 04/2020).
Kết hợp khai sinh và nhận cha
Nếu đứa trẻ chưa được khai sinh, cha mẹ có thể làm cùng lúc hai thủ tục tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cha hoặc mẹ. Hồ sơ gồm tờ khai đăng ký khai sinh, tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con, giấy chứng sinh và chứng cứ quan hệ cha con. Giấy khai sinh có đủ tên cha và trích lục nhận cha, con được cấp cùng lúc (Điều 15 Thông tư 04/2020; khoản 3 Điều 15 Nghị định 123/2015). Đây là cách tốt nhất để giấy khai sinh của con không bao giờ phải để trống phần cha.
Khi người mẹ đang có chồng nhưng cha đẻ là người khác
Đây là tình huống khó và gặp nhiều trong thực tiễn: người vợ đã ly thân nhiều năm, chung sống với người khác và sinh con, trong khi hôn nhân cũ chưa được giải quyết ly hôn; hoặc con sinh ra trong 300 ngày sau khi bản án ly hôn có hiệu lực, nhưng cha đẻ là người chồng mới.
Theo Điều 88 Luật HNGĐ, đứa trẻ được suy đoán là con của người chồng hợp pháp. Cơ quan hộ tịch không được tự gạt suy đoán này. Thông tư 04/2020 nói rõ: con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân mà vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung, hoặc người khác muốn nhận con, thì do Tòa án xác định (khoản 4 Điều 16 Thông tư 04/2020). Chỉ khi Tòa án có văn bản từ chối giải quyết, cơ quan hộ tịch mới tiếp nhận, và hồ sơ khi đó phải có văn bản từ chối của Tòa cùng kết quả giám định ADN.
Hệ quả thực tế là người cha đẻ không thể ra xã làm thủ tục nhận con. Phải có một bản án hoặc quyết định của Tòa xác định người chồng cũ không phải là cha, hoặc xác định người cha đẻ là cha. Trình tự, người có quyền khởi kiện và vai trò của giám định ADN được trình bày tại bài khởi kiện xác định cha mẹ con.
Nếu người vợ đang mang thai với người khác và muốn ly hôn, quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong giai đoạn này bị hạn chế, xem bài ly hôn khi vợ mang thai.
Những trường hợp không giải quyết ở xã
Tòa án có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con trong các trường hợp sau (khoản 2 Điều 101 Luật HNGĐ):
- có tranh chấp, ví dụ người mẹ phản đối, hoặc người được cho là cha phủ nhận;
- người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết;
- người có yêu cầu đã chết, người thân thích của họ yêu cầu thay (Điều 92 Luật HNGĐ).
Cơ quan hộ tịch không được giải quyết những việc này, và nếu đã giải quyết thì kết quả có thể bị hủy. Ngoài ra, con sinh bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc mang thai hộ được xác định cha mẹ theo quy tắc riêng, không qua thủ tục nhận cha; xem bài sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Nếu bạn không chắc trường hợp của mình thuộc xã hay thuộc Tòa, hoặc đã bị cơ quan hộ tịch trả hồ sơ, nên trao đổi với luật sư hôn nhân và gia đình trước khi đi giám định hay khởi kiện, vì chọn sai đường thường mất thêm vài tháng.
Sau khi đã nhận cha
Quan hệ cha con được xác lập kéo theo toàn bộ quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con. Con sinh ra không phụ thuộc tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau (khoản 2 Điều 68 Luật HNGĐ). Ba hệ quả hay được quan tâm:
- Cấp dưỡng và nuôi con. Người cha không sống chung với con có nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 110 Luật HNGĐ). Khi cha mẹ không thống nhất ai nuôi con, Tòa án giải quyết như với con của vợ chồng ly hôn, xem quyền nuôi con khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con.
- Thừa kế. Con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha theo pháp luật (điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, sau đây gọi là BLDS).
- Họ của con. Nhận cha không tự động đổi họ của con. Nếu muốn con mang họ cha, phải làm thủ tục thay đổi họ, vì đây là trường hợp được phép theo điểm d khoản 1 Điều 27 BLDS (thay đổi họ khi xác định cha, mẹ cho con). Con từ đủ 9 tuổi trở lên phải đồng ý (khoản 2 Điều 27 BLDS). Ai phải đồng ý và cách xử lý khi một bên phản đối được trình bày tại bài đổi họ cho con.
Câu hỏi thường gặp
Con sinh ra 8 tháng sau khi ly hôn thì giấy khai sinh ghi cha là ai?
Không có kết quả ADN thì có nhận cha được không?
Người cha đang có vợ thì nhận con riêng có cần vợ đồng ý không?
Cha đã mất thì con có nhận cha được không?
Người cha có thể ủy quyền cho người khác đi nhận con không?
Phần lớn hồ sơ nhận cha cho con hoàn tất trong vài ngày nếu đúng thẩm quyền và đúng loại chứng cứ. Khi có yếu tố nước ngoài, người mẹ còn vướng hôn nhân cũ, hoặc một bên phản đối, dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi có thể xác định đúng con đường, chuẩn bị chứng cứ và làm việc với cơ quan hộ tịch hoặc Tòa án.
