Kết hôn giả tạo để xuất cảnh, nhập quốc tịch và hệ quả pháp lý

Một cuộc hôn nhân có giấy chứng nhận kết hôn hợp lệ, có ảnh cưới, có tiệc mời họ hàng vẫn có thể là kết hôn giả tạo. Luật không nhìn vào hình thức mà nhìn vào mục đích: hai người kết hôn để làm vợ chồng, hay để một bên có được tấm thị thực, thẻ cư trú, quốc tịch hoặc một chế độ ưu đãi. Phần lớn các vụ chúng tôi tiếp nhận về loại việc này không đến từ người chủ động kết hôn giả, mà từ người bị lừa: họ tin là hôn nhân thật, đến khi người kia nhận được giấy tờ cư trú thì cắt liên lạc.

Tóm tắt

  • Kết hôn giả tạo là lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc đạt mục đích khác mà không nhằm xây dựng gia đình (khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Hành vi này bị cấm (điểm a khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ).
  • Kết hôn giả tạo vi phạm điều kiện kết hôn tại điểm d khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ, nên là kết hôn trái pháp luật và có thể bị Tòa án hủy.
  • Cha, mẹ, con, người giám hộ của người kết hôn trái pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ có quyền yêu cầu hủy (khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐ). Người bị lừa dối kết hôn tự mình có quyền yêu cầu (khoản 1 Điều 10 Luật HNGĐ).
  • Phạt tiền từ 10 đến 20 triệu đồng và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp (điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).
  • Người vì vụ lợi tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép có thể bị phạt tù từ 01 đến 05 năm theo Điều 348 Bộ luật Hình sự.
  • Không yêu cầu hủy thì hôn nhân vẫn tồn tại về pháp lý. Người muốn chấm dứt nhanh có thể chọn ly hôn thay vì hủy kết hôn.

Ranh giới giữa kết hôn vì lợi ích và kết hôn giả tạo

Khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 (văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH năm 2025, sau đây gọi là Luật HNGĐ) không cấm người ta có thêm động cơ khi kết hôn. Một người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài và sau đó theo vợ hoặc chồng ra nước ngoài định cư là chuyện bình thường. Điều bị cấm là kết hôn mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Xuất cảnh, cư trú, quốc tịch hay ưu đãi chỉ là công cụ; giả tạo nằm ở chỗ quan hệ vợ chồng không có thật.

Các dấu hiệu mà cơ quan đăng ký hộ tịch, cơ quan xuất nhập cảnh trong và ngoài nước, và Tòa án thường dùng để đánh giá:

  • Hai bên không có ngôn ngữ chung, không biết các thông tin cơ bản về nhân thân, gia đình, công việc của nhau.
  • Có khoản tiền trả cho một bên hoặc cho người trung gian để kết hôn.
  • Sau đăng ký kết hôn, hai bên không chung sống, không liên lạc, không có giao dịch tài chính chung.
  • Một bên cắt đứt quan hệ ngay sau khi nhận được giấy tờ cư trú hoặc quốc tịch.
  • Một người có nhiều lần kết hôn, ly hôn với người nước ngoài trong thời gian ngắn.

Không dấu hiệu nào tự nó là kết luận. Thực tiễn, cơ quan có thẩm quyền đánh giá tổng hợp, và người bị nghi ngờ có quyền đưa ra chứng cứ về quan hệ thật.

Kiểm soát ngay từ khâu đăng ký kết hôn

Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13 giao Chính phủ quy định việc phỏng vấn, xác minh mục đích kết hôn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài (khoản 4 Điều 38 Luật Hộ tịch 2014). Trong thời hạn 15 ngày từ khi nhận đủ hồ sơ, công chức hộ tịch có trách nhiệm xác minh (khoản 2 Điều 38 Luật Hộ tịch 2014); khi đăng ký, hai bên phải có mặt và được hỏi ý kiến về sự tự nguyện (khoản 3 Điều 38 Luật Hộ tịch 2014). Hồ sơ, thẩm quyền và các bước cụ thể được trình bày tại bài kết hôn với người nước ngoài.

Luật Hộ tịch 2014 cũng nghiêm cấm lợi dụng việc đăng ký hộ tịch nhằm động cơ vụ lợi, hưởng chính sách ưu đãi hoặc trục lợi (điểm g khoản 1 Điều 12), cung cấp thông tin sai sự thật, cam đoan, làm chứng sai sự thật (điểm a, d khoản 1 Điều 12). Với giấy chứng nhận kết hôn, cơ quan hành chính không tự thu hồi khi phát hiện kết hôn trái pháp luật; việc xử lý phải qua Tòa án (điểm e khoản 1 Điều 69, điểm h khoản 1 Điều 70 Luật Hộ tịch 2014).

Hủy kết hôn giả tạo tại Tòa án

Căn cứ

Điểm d khoản 1 Điều 8 Luật HNGĐ đặt điều kiện kết hôn: việc kết hôn không thuộc các trường hợp cấm tại điểm a, b, c, d khoản 2 Điều 5. Kết hôn giả tạo là trường hợp đầu tiên của điểm a. Vì vậy kết hôn giả tạo là kết hôn trái pháp luật và được xử lý theo Điều 11 Luật HNGĐ cùng pháp luật tố tụng dân sự. Trình tự, hồ sơ và thẩm quyền chung của thủ tục hủy được phân tích tại bài hủy kết hôn trái pháp luật; phần dưới đây chỉ nói những gì riêng của kết hôn giả tạo.

Ai có quyền yêu cầu

Người yêu cầu

Căn cứ

Ghi chú

Cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luậtĐiểm a khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐGặp khi gia đình phát hiện con mình bị đưa vào cuộc hôn nhân có trả tiền
Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữĐiểm b, c, d khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐCá nhân, tổ chức khác phát hiện vi phạm có thể đề nghị các cơ quan này khởi động (khoản 3 Điều 10)
Người bị lừa dối kết hônKhoản 1 Điều 10 Luật HNGĐCăn cứ là vi phạm sự tự nguyện tại điểm b khoản 1 Điều 8

Khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐ không liệt kê chính hai người cùng cố ý kết hôn giả tạo. Nhiều người vì vậy nghĩ có thể “né” bằng một đơn ly hôn bình thường. Cách nghĩ đó không an toàn. Theo Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP (sau đây gọi là TTLT 01/2016), nếu tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên vẫn không có đủ điều kiện kết hôn mà một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn, Tòa án bác yêu cầu ly hôn và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật (điểm b khoản 3 Điều 4 TTLT 01/2016). Khi đó tài sản giải quyết theo Điều 16 Luật HNGĐ chứ không theo chế độ tài sản vợ chồng. Theo chúng tôi, người đã tự nguyện tham gia một cuộc kết hôn giả tạo nên được tư vấn đầy đủ về hệ quả này và về rủi ro xử phạt trước khi nộp bất kỳ đơn nào.

Người bị lừa dối là trường hợp riêng

Kịch bản thường gặp: một người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc Việt kiều, tin rằng đó là hôn nhân thật. Người kia chỉ cần giấy chứng nhận kết hôn để làm hồ sơ cư trú, hoặc ngược lại một người nước ngoài bị người Việt Nam lợi dụng để bảo lãnh. Với bên bị lừa, đây không còn là kết hôn giả tạo hai phía mà là lừa dối kết hôn.

Khoản 3 Điều 2 TTLT 01/2016 định nghĩa lừa dối kết hôn là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi đó thì bên bị lừa đã không đồng ý. Người bị lừa có quyền tự mình yêu cầu Tòa án hủy (khoản 1 Điều 10 Luật HNGĐ). Chứng cứ có giá trị thường là tin nhắn, thư từ thể hiện lời hứa chung sống, việc người kia cắt liên lạc ngay sau khi có giấy tờ cư trú, hồ sơ bảo lãnh, lời khai của người trung gian.

Thực tiễn, khi bên kia đang ở nước ngoài, thủ tục hủy kết hôn hoặc ly hôn đều kéo dài vì phải tống đạt qua đường tương trợ tư pháp. Thẩm quyền, thời hạn và cách xử lý khi bị đơn ở nước ngoài được trình bày tại bài ly hôn có yếu tố nước ngoài. Người bị lừa cũng có thể chọn yêu cầu ly hôn đơn phương theo khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ, như phân tích tại bài ly hôn đơn phương. Cần biết hai giới hạn: nếu sau khi biết bị lừa mà người đó vẫn thông cảm, tiếp tục chung sống hòa thuận thì thời điểm đủ điều kiện kết hôn được tính từ lúc đó (Ví dụ 1 khoản 5 Điều 2 TTLT 01/2016); còn nếu Tòa án xác định hôn nhân vẫn vi phạm điều kiện kết hôn tại thời điểm giải quyết thì yêu cầu ly hôn bị bác và việc kết hôn bị hủy (điểm b khoản 3 Điều 4 TTLT 01/2016).

Hậu quả khi bị hủy

Theo Điều 12 Luật HNGĐ, hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng; quyền, nghĩa vụ với con chung giải quyết như khi ly hôn; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giải quyết theo Điều 16 Luật HNGĐ, tức là như quan hệ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn. Không có “tài sản chung của vợ chồng” để chia đôi; quan hệ tài sản giải quyết theo thỏa thuận, không thỏa thuận được thì theo Bộ luật Dân sự, và công việc nội trợ, chăm sóc gia đình được coi như lao động có thu nhập khi chia (khoản 1, khoản 2 Điều 16 Luật HNGĐ). Quyết định hủy được gửi cơ quan đã đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch (khoản 3 Điều 11 Luật HNGĐ).

Khoản 2 Điều 11 Luật HNGĐ cho phép Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân nếu tại thời điểm giải quyết cả hai bên đã đủ điều kiện kết hôn và cùng yêu cầu công nhận; quan hệ hôn nhân khi đó được công nhận từ thời điểm các bên đủ điều kiện (điểm a khoản 2 Điều 4 TTLT 01/2016). Với kết hôn giả tạo, điều này chỉ có thể xảy ra khi hai người đã thực sự chung sống, xây dựng gia đình, tức là yếu tố “giả tạo” không còn. Theo chúng tôi, chứng cứ về đời sống chung thực tế sau đăng ký kết hôn là trọng tâm của loại hồ sơ này.

Xử phạt hành chính

Nghị định 109/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ 18/5/2026, thay thế Nghị định 82/2020/NĐ-CP) quy định các mức phạt liên quan:

Hành vi

Mức phạt cá nhân

Căn cứ

Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch, hưởng chế độ ưu đãi hoặc mục đích khác không nhằm xây dựng gia đình10 đến 20 triệu đồng, buộc nộp lại số lợi bất hợp phápĐiểm d khoản 2, khoản 3 Điều 62
Lừa dối kết hôn10 đến 20 triệu đồngĐiểm c khoản 2 Điều 62
Cung cấp thông tin, tài liệu hoặc cam đoan, làm chứng sai sự thật về tình trạng hôn nhân để đăng ký kết hôn3 đến 5 triệu đồng, kiến nghị xử lý giấy chứng nhận kết hôn đã cấpĐiểm b khoản 2, điểm b khoản 4 Điều 38
Trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài lợi dụng hoạt động để trục lợi10 đến 20 triệu đồng (mức phạt tổ chức), đình chỉ hoạt động 06 đến 09 thángĐiểm b khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 39

Mức phạt tối đa với cá nhân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là 30 triệu đồng; tổ chức vi phạm như cá nhân bị phạt gấp đôi, trừ các điều đã quy định riêng mức phạt tổ chức (khoản 1, 4, 5 Điều 4 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).

Trách nhiệm hình sự

Bản thân việc kết hôn giả tạo không phải là tội phạm. Nhưng các hành vi đi kèm có thể cấu thành tội:

  • Người môi giới, tổ chức. Người vì vụ lợi tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép bị phạt tù từ 01 đến 05 năm, khung cao nhất đến 15 năm (Điều 348 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017). Đường dây “kết hôn để xuất khẩu lao động” hoặc “kết hôn để nhập cảnh” thường bị xem xét theo điều này.
  • Giấy tờ giả. Làm, sử dụng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân giả, hồ sơ nhân thân giả để đăng ký kết hôn có thể bị xử lý về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
  • Mua bán người. Khi “kết hôn” chỉ là vỏ bọc để đưa người ra nước ngoài bóc lột, đây là hành vi mua bán người với khung hình phạt rất nặng.

Ở nước tiếp nhận, kết hôn giả tạo để có thị thực hay quốc tịch thường bị xử lý độc lập theo pháp luật nước đó: thu hồi giấy phép cư trú, trục xuất, cấm nhập cảnh, thậm chí truy tố. Những hệ quả này không phụ thuộc việc hôn nhân có bị Tòa án Việt Nam hủy hay chưa.

Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo và kết hôn trái pháp luật khác

Kết hôn giả tạo và ly hôn giả tạo cùng nằm ở điểm a khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ và cùng khung phạt, nhưng hậu quả khác hẳn nhau. Ly hôn giả tạo đã chấm dứt hôn nhân và rủi ro dồn vào phần tài sản; kết hôn giả tạo vẫn để hôn nhân tồn tại cho đến khi có quyết định hủy hoặc ly hôn. Các trường hợp kết hôn trái pháp luật khác như tảo hôn, kết hôn khi đang có vợ, có chồng hay giữa những người cùng dòng máu được trình bày tại bài hủy kết hôn trái pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

Người kết hôn giả tạo bị phạt hành chính 10 đến 20 triệu đồng (điểm d khoản 2 Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP). Người môi giới, tổ chức vì vụ lợi cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép có thể bị phạt tù theo Điều 348 Bộ luật Hình sự.

Có thể tự mình yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật vì bị lừa dối (khoản 1 Điều 10 Luật HNGĐ). Nếu chọn đơn ly hôn mà Tòa án xác định việc kết hôn vẫn vi phạm điều kiện kết hôn, Tòa án sẽ bác yêu cầu ly hôn và hủy kết hôn (điểm b khoản 3 Điều 4 TTLT 01/2016).

Không. Giấy chứng nhận kết hôn vẫn có giá trị cho đến khi Tòa án tuyên hủy hoặc cho ly hôn. Cơ quan hộ tịch không tự thu hồi giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật.

Cá nhân, tổ chức phát hiện có thể đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, về trẻ em hoặc Hội Liên hiệp Phụ nữ yêu cầu Tòa án hủy (khoản 3 Điều 10 Luật HNGĐ), và báo cơ quan công an nếu có dấu hiệu môi giới, mua bán người.

Theo Điều 16 Luật HNGĐ, như quan hệ chung sống không đăng ký kết hôn: theo thỏa thuận, không thỏa thuận được thì theo Bộ luật Dân sự, có tính công việc nội trợ như lao động có thu nhập.

Nếu bạn nghi ngờ mình đã bị lợi dụng trong một cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài, hoặc gia đình cần yêu cầu hủy một cuộc kết hôn có dấu hiệu mua bán, luật sư hôn nhân và gia đình nên được tham gia từ lúc thu thập chứng cứ, vì lựa chọn giữa hủy kết hôn và ly hôn quyết định cả thời gian giải quyết lẫn rủi ro bị xử phạt của chính người yêu cầu. Dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi tư vấn lựa chọn thủ tục, chuẩn bị chứng cứ về lừa dối kết hôn, đại diện yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật hoặc ly hôn khi bên kia ở nước ngoài.

Các vấn đề hôn nhân và gia đình cần được xử lý thấu đáo cả về pháp lý lẫn sự riêng tư. Luật Quốc Ấn tiếp nhận đánh giá sơ bộ và tư vấn hướng giải quyết phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của bạn.

Chưa rõ vấn đề pháp lý của mình?

Mô tả vụ việc - Luật Quốc Ấn phản hồi bằng văn bản đánh giá sơ bộ trong 24 giờ làm việc, trước khi bạn quyết định sử dụng dịch vụ.

Đặt lịch tư vấn 0965 679 698